13- Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến &  Trung Tâm Huấn Luyện Rừng Cấm - Quận Thủ Đức,tỉnh Gia Định

 

Bài này gồm có hai Phần :

Phần 1 : Lược Sử H́nh Thành Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến

Phần 2 : Quân Trường Rừng Cấm

 

Phần 1 : Lược Sử H́nh Thành Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến  

Sau đây là lược sử thành lập Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa

Theo tài liệu [1] : Lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Ḥa có nguồn gốc từ thời kỳ Pháp thuộc.

Năm 1949, theo Thỏa ước Pháp-Việt, lực lượng vũ trang của chính phủ Quốc Gia Việt Nam sẽ bao gồm lực lượng Hải Quân, với tổ chức và huấn luyện do phía Hải Quân Pháp đảm nhiệm.

 Năm 1951, Pháp đề nghị phương án phát triển Hải Quân Việt Nam, theo đó sẽ thành lập hai  (2) sư đoàn hải quân, do Pháp chỉ huy.

Tháng 3 năm 1952, Sắc lệnh số 2 của Đế Chế Pháp chính thức xác lập Hải Quân Việt Nam. Tới năm sau, hai sư đoàn hải quân được thiết lập.

Năm 1953, chính phủ Pháp và Việt Nam đồng ư tăng Lục Quân lên 57 tiểu đoàn khinh bộ binh, đảm nhận nhiệm vụ tấn công. Các chiến dịch này mở rộng ra cả vùng duyên hải của Việt Nam, nên việc mở rộng hải quân cũng được xét đến. Trong khi việc  (quyết định ?) các đội giang thuyền (có?)  nên nằm dưới sự chỉ huy của Lục Quân hay Hải Quân c̣n chưa được định đoạt, th́ Phó Đô Đốc Pháp Auboyneau đề xuất việc thành lập  một  quân đoàn (binh chủng ?) Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam.

Theo tài liệu [2] : Vào năm 1954, khi quân Pháp bắt đầu rút lui khỏi Việt Nam, th́ đơn vị Bộ Binh Hải Quân c̣n nằm trong tổ chức của Hải Quân, mới chỉ có một Bộ Chỉ Huy, 4 Giang Đoàn và những Đại Đội Biệt Kích (Commando) hành quân biệt lập.

Tài liệu [1] cũng viết tương tự như trên :  Năm 1954, khi người Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam, th́ quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến đă bao gồm một Bộ Chỉ Huy, bốn (4) đại đội đường sông và một  (1) tiểu đoàn đổ bộ.

Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam được (chính thức ?)  thành lập ngày 01 tháng 10 năm 1954 tại Nha Trang với danh xưng ban đầu là Bộ Binh Hải Quân (Sắc lệnh số 99/SL ngày 13 tháng 10 năm 1954 của Phủ Thủ Tướng) do Trung Tá Lê Quang Trọng  làm Chỉ Huy Trưởng đầu tiên nhưng trước đó, Con Cọp Biển đàn anh của cả binh chủng, Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, danh hiệu là Quái Điểu đă được thành lập tại Nha Trang tháng 8 năm 1954.

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 1  danh hiệu là Quái Điểu -  H́nh trích từ tài liệu [3] 

Bộ Chỉ Huy đặt tại Bộ Tổng Tham Mưu ở đường Trần Hưng Đạo, Sàig̣n. Tháng 6 năm 1955, Bộ Chỉ Huy dời về căn cứ Cửu Long, Thị Nghè, Sàig̣n (Gia Định th́ đúng hơn !).

Hơn nửa,theo tài liệu [4] : Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Việt Nam được thành lập ngày 01 tháng 10 năm 1954 theo sắc lệnh của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm từ các đơn vị biệt kích (Commando) nổi tiếng và Tuần Giang Xung Kích (Dinassaut) của Hải Quân Pháp di chuyển vào miền Nam sau hiệp định Genève 1954, trực thuộc quân chủng Hải Quân với quân số 1,150 người và Bộ Chỉ Huy ở trại Cửu Long (Thị Nghè), sau dời về số 15, đường Lê Thánh Tôn, Sàig̣n (nguyên là cơ sở của đơn vị Commando của Hải Quân Pháp trước đây) gần Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa ở Bến Bạch Đằng-quận 1-Sài g̣n.

 

Phù hiệu Thủy Quân Lục Chiến 1954- H́nh trích từ tài liệu [4] 

 

Hơn nửa theo tài liệu [2] : Sau khi Quân Đội Pháp rút khỏi Việt Nam vào cuối năm 1954, Chính Phủ và Quân Đội Hoa Kỳ trực tiếp đóng vai tṛ quân viện và trợ giúp Quân Đội Nam Việt Nam tái tổ chức. Một sĩ quan TQLC trong Cơ Quan Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ (USMAAG) là Trung tá Victor J. Croizat, sau nhiều cuộc tiếp xúc và thảo luận chính thức để xúc tiến việc thành lập binh chủng mới với chính phủ Việt Nam, th́ ngày 13 tháng 10 năm 1954, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm kư Nghị Định số 991/NĐ, trong đó, điều 1 và 3 ghi rơ:

Điều 1: Hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1954, thành lập trong tổ chức Hải Quân Việt Nam một Binh Chủng Bộ Binh, đặc trách kiểm soát các thủy tŕnh và những cuộc hành quân thủy bộ dọc theo bờ biển Nam Hải và trong sông ng̣i, mang tên: “Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến ‘’.

Điều 3 : Binh Chủng TQLC sẽ gồm nhiều đơn vị khác nhau, tùy theo nhiệm vụ, đă có sẵn trong các quân chủng Lục Quân và Hải Quân, hay sẽ được thành lập sau nay, tùy theo kế hoạch phát triển của Quân Đội Nam Việt Nam.

Chiếu theo Nghị Định này, những Đại Đội Biệt Kích, Đại Đội Yểm Trợ và Giang Đoàn, từ hai quân chủng Hải và Lục Quân được sát nhập để thành lập binh chủng TQLC. Nhiều đơn vị Biệt Kích Hải Quân, từng hoạt động trong vùng đồng bằng sông Hồng Hà, Bắc Việt tỏ ra rất hữu hiệu. Đoàn tàu xung kích đó thường gồm trên 10 chiếc, với những chiến đĩnh chở quân đổ bộ vơ trang, chiến đĩnh yểm trợ hỏa lực và chiến đĩnh chỉ huy. Một Đại Đội Biệt Kích, quân số khoảng 100 người, đặt dưới quyền điều động của một Ban Chỉ Huy Hải Quân. Với lực lượng và hỏa lực như vậy, đoàn tàu xung kích có khả năng điều động những đơn vị bộ binh tác chiến, đổ bộ lên những vùng địa thế hiểm trở, với hỏa lực yểm trợ tiếp cận hùng hậu của đại liên, đại bác trực xạ và súng cối tầm xa. Những cuộc hành quân loại này đă đạt được nhiều kết quả trong khu vực sông Hồng Hà, là nơi có nhiều sông ng̣i và có nhiều đơn vị cộng sản trú ẩn.

Theo tài liệu [4] : Phái Bộ Quân Sự Pháp muốn duy tŕ h́nh thức bộ binh xung kích hoạt động trên các giang đỉnh đầy sáng tạo và khá thành công trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54) cũng như các hoạt động đổ bộ và binh chủng TQLC vẫn c̣n tùy thuộc vào sự yểm trợ tiếp vận của Quân Đội Pháp trong thời gian này.

 

Theo tài liệu [2] : Đệ  Nhứt Tiểu Đoàn Bộ Binh Hải Quân (1er Bataillon de L'Infanterie Marine) (Tiểu Đoàn 1- Quái Điểu)  đầu tiên được thành lập từ những Đại Đội Biệt Kích dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp, đồn trú tại căn cứ gần Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.

Cũng vào thời gian đầu này, Trung Tá Lê Quang Trọng được Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Binh Chủng TQLC và Trung Tá Croizat cũng được USMAAG cử làm Cố Vấn Trưởng đầu tiên. Những thành phần c̣n lại của binh chủng trong khi đó vẫn c̣n phân tán ở nhiều nơi, từ Huế vào đến vùng châu thổ sông Cửu Long như: 6 Đại Đội Giang Thuyền , 5 Đại Đội Yểm Trợ Tác Chiến và 1 đoàn chiến thuyền huấn luyện.

V́ chưa có Bộ Chỉ Huy chính thức, nên Trung Tá Trọng gần như cách biệt với các đơn vị dưới quyền của ông. Với một tổ chức và tên tuổi mới mẻ, binh chủng TQLC đă gặp rất nhiều khó khăn. Trước nhất, và có lẽ là nguyên do chính, dù đă có nghị định thành lập của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm, binh chủng TQLC thực tế vẫn ở trong vị thế "bán chính thức". Một cố vấn Hoa Kỳ đă giải thích: "Binh Chủng TQLC/VN ít được ai biết tới. Họ gồm nhiều đơn vị không đồng nhất, lại đồn trú rải rác quá nhiều nơi, từ Huế vào đến vùng Châu Thổ Cửu Long".

Trên thực tế, những đơn vị đồn trú phân tán đó, vẫn do đạo quân viễn chinh Pháp yểm trợ về tiếp vận tiếp liệu, cho thấy rơ t́nh trạng "lệ thuộc" của binh chủng. Kế đến, trở ngại đến từ phía người Pháp. Sĩ quan Pháp vẫn nắm giữ các chức vụ chỉ huy các đơn vị. Binh Chủng TQLC lại nằm trong hệ thống tổ chức của Hải Quân.

Dưới sự thỏa thuận của Pháp và Hoa Kỳ trong giai đoạn đầu chuyển tiếp, Hải Quân và Không Quân Việt Nam do các sĩ quan Pháp trách nhiệm tổ chức và huấn luyện. Một vị Đại Tá Pháp giữ 2 nhiệm vụ, vừa là Trưởng Tiểu Ban Thành Lập và Huấn Luyện Hải Quân, vừa là Tư Lệnh Hải Quân Nam Việt Nam. Điều này đă dành cho vị sĩ quan Hải Quân Pháp toàn quyền duyệt xét và quyết định những đề nghị đưa lên từ phía Cố vấn TQLC Hoa Kỳ.

Vấn đề thêm phức tạp, Tiểu Đoàn Trưởng Đệ Nhứt Tiểu Đoàn Bộ Binh Hải Quân lúc đó lại là Thiếu Tá người Pháp tên là Souquet, Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Jean Louis Delayen, Đại Đội Trưởng Chỉ Huy  Việt Nam là  Roger Bùi Phó Chí.

 

 

Đại Úy Bùi Phó Chí năm 1954 - H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

Theo tài liệu [2] : Kế hoạch giải ngũ chung trong quân đội Nam Việt Nam theo hiệp định Genève cũng đưa đến nhiều trở ngại cho binh chủng TQLC vào đầu năm 1955.

Theo sự thỏa thuận của hai Chánh phủ Hoa Kỳ và Nam Việt Nam, quân số của Hải Quân được ấn định là 3,000 người, trong đó TQLC đă có tới 2,400, vừa sĩ quan lẫn binh sĩ, được lệnh phải giảm xuống c̣n 1,137 người. V́ binh chủng TQLC chưa có Bộ Chỉ Huy Trung Ương và chưa có thực quyền, ngay cả nhiệm vụ là tập trung các đơn vị, nên đă xảy ra nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp về quản trị hành chánh. Do đó, việc thành lập và phát triển binh chủng TQLC lúc đầu đă gặp rất nhiều trở ngại. Binh Chủng TQLC Việt Nam nằm trong tay 3 nhân vật chính: Thiếu Tá Souquet, Trung Tá Victor J. Croizat và Trung Tá Lê Quang Trọng.

Theo tài liệu [4] : Ngay từ đầu đơn vị cố vấn TQLC Hoa Kỳ do Trung Tá Victor Croizat chỉ huy đă để lại một dấu ấn sâu đậm trong việc h́nh thành, xây dựng và phát triển binh chủng TQLC non trẻ này. Thông thạo tiếng Pháp và thân cận với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm khi chỉ huy nhóm cố vấn Hoa Kỳ yểm trợ cho nỗ lực di cư gần 1 triệu dân Miền Bắc vào miền Nam sau hiệp định Genève cũng như tái định cư cho những người dân xa xứ này, Croizat được xem như một anh hùng trong những ngày đầu của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa.

Trung Tá Croizat trở thành cố vấn trưởng đầu tiên của binh chủng TQLC Việt Nam và cùng với Đại Úy Phạm Văn Liễu hoạch định việc tổ chức, xây dựng và phát triển binh chủng TQLC từ những đơn vị không đồng nhất và đóng rải rác từ Huế vào đến đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian đầu rồi dần dần trưởng thành sau những năm khói lửa của thập niên 1960 và 1970 thành một trong những đại đơn vị thiện chiến và lừng danh nhất trong chiến cuộc Đông Dương làn thứ hai (1945-1954).

Đại Úy Liễu từng hoạt động lâu dài trong các liên đoàn tuần giang xung kích cũng như thực tập với các đơn vị biệt kích Commando ở miền Bắc trước khi di chuyển vào miền Nam sau hiệp định Genève nên được giao phó trách nhiệm thành lập binh chủng Thủy Quân Lục Chiến với Trung Úy Lê Nguyên Khang là phụ tá. Hai tiểu đoàn đầu tiên được thành lập từ các đơn vị biệt kích nổi tiếng và tuần giang xung kích của Hải Quân Pháp trước đây với cố vấn người Pháp, nhưng tổ chức theo biên chế tiểu đoàn TQLC của quân đội Hoa Kỳ với 1 đại đội chỉ huy, 4 đại đội chiến đấu và 1 đại đội súng nặng.

 

 

Huy hiệu TQLC đầu tiên - H́nh trích từ tài liệu [5]

Theo tài liệu [2] : Sau những chiến thắng khởi đầu cuộc chính biến với các  giáo phái Ḥa Hảo, Cao Đài và tổ chức Binh Xuyên vào thời gian đầu năm 1955, binh chủng TQLC đă được chính phủ tin tưởng.

Ngày 1 tháng 5 năm 1955, Trung Tá Lê Quang Trọng thiết lập bản doanh và Bộ Chỉ Huy chính thức tại Trại Cửu Long, Thị Nghè. (Sau cuộc đảo chánh Cách Mạng (đảo chánh)  lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tháng 11 năm 1963, Bộ Chỉ Huy  được dời về số 15 Lê Thánh Tôn Sàig̣n).

Thủ Tướng  Ngô Đ́nh Diệm bổ nhiệm Đại Úy Bùi Phó Chí làm Tiểu Đoàn Trưởng Đệ Nhứt Tiểu Đoàn Bộ Binh Hải Quân thay thế Thiếu Tá Souquet. Các sĩ quan Pháp chỉ c̣n giữ chức vụ cố vấn.

Vào cuối tháng 6 (năm 1955), Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm thay thế tất cả sĩ quan Pháp đang giữ chức vụ chỉ huy trong Hải Quân bằng sĩ quan VN. Việc thay đổi này dă làm giảm thiểu ảnh hưởng người Pháp trong Quân Đội và cũng từ đó, TQLC Việt Nam được điều động bởi Bộ Tổng Tham Mưu trung ương nhiều hơn.

Đoạn kết của cuộc xung đột giáo phái được đánh dấu bằng cuộc trưng cầu dân ư toàn quốc ngày 23 tháng 10 bầu vị nguyên thủ Miền Nam. Kết quả, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đạt được tỷ lệ số phiếu 98% so với cựu Hoàng Bảo Đại. Và, ngày 26 tháng 10 năm 1955, tân Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố Quốc Hiệu của Miền Nam là Việt Nam Cộng Ḥa .

Theo tài liệu [4] : Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 2 TQLC h́nh thành trong năm 1955 cùng với một bộ chỉ huy binh chủng và một đại đội pháo binh.  Tiểu Đoàn 3 TQLC được thành lập vào tháng 5 năm 1959.

Huy hiệu Tiểu Đoàn 1 TQLC - H́nh trích từ tài liệu [4]

(Phụ chú : Theo các tin tức cung cấp bởi AI trên mạng (cần phải kiểm chứng thêm) ,tên gọi Yết Kiêu được chính thức đặt và gắn liền với Tiểu Đoàn 1, Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ) từ những năm đầu thành lập, khoảng 1956-1957, khi đơn vị đóng tại Thủ Đức, dù tên gọi chính thức của TQLC thay đổi nhiều lần trong giai đoạn đầu). 

 

Theo tài liệu [2] : Các vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 TQLC gồm: Thiếu Tá  Souquet (1954), Đại Úy Bùi Phó Chí (1955), Trung  Úy Ngụy Văn Thanh (1956), Đại Úy Nguyễn Văn Tài (1958), Đại Úy  Lê Nguyên Khang (1960), Trung  Úy  Trần Văn Nhựt (1960), Đại Úy  Tôn Thất Soạn (1964), Đại Úy Phan Văn Thắng (1966), Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí (1969), Thiếu Tá  Nguyễn Đằng Tống (1970), Thiếu Tá Nguyễn Đăng Ḥa (1972) và Thiếu Tá  Dương văn Hưng (1975).

Các vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2  gồm: Đại Úy Nguyễn Kiên Hùng (11/1955), Đại Úy Hoàng A Sam (6/1956), Đại Úy Lê Nguyên Khang (9/1957), Đại Úy Nguyễn Hải Đằng (5/1958), Đại Úy Nguyễn Thành Yên (7/1958), Trung Úy Dương Hạnh Phước (6/1960), Đại Úy  Nguyễn Thành Yên (1/1961), Đại Úy Cổ Tấn Tinh Châu (11/1963), Đại Úy  Hoàng Tích Thông (11/1964), Thiếu Tá Lê Hằng Minh (11/1965), Đại Úy  Ngô Văn Định (6/1966), T Thiếu Tá Nguyễn Kim Đễ XLTV/TĐ (Xử Lư thường Vụ Tiểu Đoàn) (3/1969), Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc (5/1969), và Thiếu Tá Trần Văn Hợp (2/72-4/1975).

 

Sau khi chiến dịch Hoàng Diệu nhằm tảo thanh tàn quân B́nh xuyên ở Rừng Sát chấm dứt ngày 24 tháng 10 năm 1955, Đại Úy Nguyễn Kiên Hùng, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Tuần Giang và Xung Kích Số 1, được chỉ định thành lập Tiểu Đoàn 2 Bộ Binh TQLC. Đơn vị tân lập đồn trú tại Long Hải, Bà Rịa.

Đầu năm 1956, Tiểu Đoàn 2 rời căn cứ về Rạch Dừa Vũng Tàu.

Ngày 18 tháng 1 năm 1956, Tổng Thống Đ́nh Diệm Diệm bổ nhiệm Thiếu Tá Phạm Văn Liễu làm Chỉ Huy Trưởng TQLC, vị CHT thứ 2 của Binh Chủng, thay thế Trung Tá Lê Quang Trọng đi giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn Bộ Binh.

Đầu tháng 8 năm 1956, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bổ nhiệm Đại Úy Bùi Phó Chí, lúc đó đang làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Bộ Binh TQLC, kiêm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn TQLC thay thế Thiếu Tá Phạm Văn Liễu.

Đến ngày 01 tháng 10 năm 1956, Thiếu Tá Lê Như Hùng được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng thứ tư của Binh Chủng.

 

Theo tài liệu [2] : Qua năm 1956, quân số của Binh Chủng giảm xuống c̣n khoảng 1,800 người, mặc dầu vẫn duy tŕ hệ thống tổ chức như lúc đầu, gồm có 6 Đại Đội Hải Thuyền, 5 đại đội Yểm Trợ nhẹ, 1 Tiểu đoàn Bộ Binh, và 1 Bộ Chỉ Huy. Sau hơn nửa năm nghiên cứu của Bộ Tham Mưu và được các cố vấn Hoa Kỳ yểm trợ, ngày 21 tháng 12, Thiếu Tá Phạm Văn Liễu  (trước đó là Đại Úy) đệ tŕnh lên Bộ Tổng Tham Mưu kế hoạch cải tổ mới với 2 điểm đặc biệt là :

Thành lập thêm một tiểu đoàn bộ binh TQLC mà quân số không quá mức ấn định;

Và nâng bnh chủng thành Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

 Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận những đề nghị của TQLC đưa lên. Kế hoạch phát triển khởi sự vào tháng 2 năm 1956 khi Tiểu Đoàn 1 Bộ Binh TQLC hoàn tất công tác "dẹp loạn" trở về hậu cứ Nha Trang. Tất cả những đại đội Hải Thuyền và Yểm Trợ được giải tán. Ba đơn vị tân lập gồm có: Tiểu đoàn 2 Bộ Binh TQLC, một Đại Đội Trọng Pháo 106 ly, tiền thân của Pháo Binh TQLC và một Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ Liên Đoàn, tiền thân của Tiểu Đoàn Tổng Hành Dinh.

Với kết quả cải tổ này, sơ đồ tổ chức của Tiểu Đoàn TQLC Việt Nam tương tự như sơ đồ tổ chức của Tiểu Đoàn TQLC Hoa Kỳ gồm 3 đại đội tác chiến, 1 đại đội vũ khí nặng và 1 đại đội chỉ huy và công vụ. Mỗi đại đội tác chiến có 3 trung đội khinh binh và 1 trung đội vũ khí cộng đồng. Và cũng như vậy, 1 trung đội khinh binh có 3 tiểu đội chiến đấu, mỗi tiểu đội có 3 tiểu tổ 3 binh sĩ (sau này, hệ thống tam chế được cải tổ thành tứ chế).

Vũ khí cá nhân trang bị cho các khinh binh là súng Carbine M-1, loại vũ khí nhẹ từng được trang bị cho những đơn vị Commando thời Pháp. Trung đội vũ khí cộng đồng được trang bị 6 khẩu trung liên BAR (Browning Automatic Rifle). Đại đội vũ khí nặng của tiểu đoàn gồm 1 trung đội 4 khẩu súng cối 81 ly và một trung đội 2 khẩu đại bác không giật 57 ly. Trong khi kế hoạch cải tổ được tiến hành tốt đẹp, Ban Chỉ Huy Liên Đoàn khởi sự kế hoạch phát triển Binh Chủng thành Trung Đoàn. Với kế hoạch này, quân số TQLC sẽ tăng từ 1,837 lên 2,485 người, vẫn không vượt quá mức quân số ấn định của Hải Quân và của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (QLVNCH), trong đó, Tiểu Đoàn Bộ Binh TQLC thứ ba sẽ được thành lập. Kế hoạch này cũng đề nghị, binh chủng TQLC sẽ trở thành lực lượng Tổng Trừ Bị và được đặt trực tiếp dưới quyền điều động cùa Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Mặc dù đề nghị này không được chấp thuận ngay, nhưng đă trở thành kế hoạch phát triển sau đó.

Tháng 6 năm 1957, một lần nữa, Tiểu Đoàn 2 di chuyển bằng đường bộ ra Ba Ng̣i, tiếp nhận căn cứ Cam Ranh của Hải Quân Pháp trao lại, là nơi quân đội Pháp đă dùng để huấn luyện lực lượng thủy bộ trong giai đoạn cuối cuộc chiến Đông Dương.

Năm 1957, Tiểu Đoàn 3 Sói Biển được thành lập .

Huy hiệu Tiểu Đoàn Sói Biển- H́nh trích từ tài liệu [3]

Theo tài liệu [2] : Kể từ năm 1957 đến 1971, Hậu cứ của Tiểu Đoàn 3 được lần lượt qua các nơi như Thủy Xưởng Miền Đông thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân đến trại Hoàng Diệu, trại Chương Dương, trại Ngô Xuân Soạn ở Thủ Đức.

Từ năm 1971, hậu cứ Tiểu Đoàn 3 được di chuyển vào Căn Cứ Sóng Thần, Dĩ An. Sau ngày lễ xuất quân tại G̣ Dưa, Thủ Đức, Tiểu Đoàn 3 mở những cuộc hành quân an ninh tại Đức Ḥa, Đức Huệ (Hậu Nghĩa), yểm trợ mở đường xuyên qua khu rừng C̣ Mi (sau này là đường xa lộ từ Dĩ An đến B́nh Dưong). Rồi TĐ3 bất ngờ đổ bộ lên đảo Phú Quốc, vùng Đá Bạc (U Minh) để phá tan hậu cần của giặc cộng. Tiểu Đoàn 3  Sói Biển là đơn vị tiên phong đột nhập và tiến chiếm Cổ Thành Quảng Trị cùng với các TĐ khác trong ngày 15 tháng 9 năm 1972.

Tiểu Đoàn 3/TQLC được chỉ huy bởi các Tiểu Đoàn  Trưởng sau đây: Đại Úy Lê Nguyên Khang (9/1957), Đại Úy Trần Trung Ái (1959), Đại Úy Nguyễn Kiên Hùng (1959), Đại Úy  Mă Viết Bằng (1961), Đại Úy Dương Hạnh Phước (1962), Đại Úy  Mă Viết Bằng (5/1963), Đại Úy Tôn Thất Soạn (12/1963), Thiếu Tá Nguyễn Thành Yên (1/1964), Thiếu Tá  Nguyễn Thế Lương (12/1964), Đại Úy Nguyễn Năng Bảo (6/1966), Thiếu Tá  Phạm Văn Sắt (5/1969), Thiếu Tá  Nguyễn Năng Bảo (9/1969), Thiếu Tá Lê Bá B́nh (1971), Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh (1972) và  Thiếu Tá Nguyễn Văn Sử (1974) .

Theo tài liệu [1] : Cùng năm 1957, Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được nâng cấp thành Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Ḥa với quân số 2.300 quân nhân do Thiếu Tá Lê Nguyên Khang chỉ huy.

Nhưng theo tài liệu  [4] : Đến ngày 1 tháng 6 năm 1959,Liên Đoàn TQLC được chính thức thành lập với quân số 2,276  quân nhân (tổ chức với 3 tiểu đoàn chiến đấu và 1 pháo đội súng cối) và cùng với Lữ Đoàn Nhảy Dù h́nh thành lực lượng tổng trừ bị cơ động chiến lược của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa, hoạt động trên khắp 4 vùng chiến thuật của Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) dưới quyền điều động trực tiếp của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Thiếu Tá Lê Nguyên Khang trở thành Chỉ Huy Trưởng binh chủng năm 1960, một chức vụ kéo dài đến tháng 5  năm 1972 khi ông đă lên đến chức Trung Tướng, trừ một khoảng thời gian 3 tháng sau chính biến 1963 khi ông bàn giao chức vụ lại cho Trung Tá Nguyễn Bá Liên để đi làm tùy viên quân sự ở Philippines.

Trước Thiếu Tá Khang, binh chủng TQLC lần lượt được chỉ huy bởi Trung Tá Lê Quang Trọng (tháng 5 năm 1955 đến tháng 01 năm 1956), Thiếu Tá Phạm Văn Liễu ( tháng 1 đến tháng 8 năm 1956), Đại Úy Bùi Phó Chí (tháng 8 đến tháng 10 năm 1956), Thiếu Tá Lê Như Hùng (tháng 10 năm 1956 đến tháng 6 năm 1960).

 

Quân Phục (theo tài liệu [2] ) : Từ khởi đầu cho đến năm 1960, TQLC mang quân phục hỗn hợp tương tự như Hải Quân và như Lục Quân Việt Nam, đội nón béret xanh có hai mỏ neo chéo nhau.

Huy hiệu TQLC nón béret đầu tiên- H́nh trích từ tài liệu tài liệu [5]

Theo tài liệu [4] : Được sự yểm trợ tối đa của quân chủng TQLC Hoa Kỳ qua toán cố vấn Marine Advisory Unit (MAU) bao gồm tổ chức, huấn luyện, tham mưu, hành quân và yểm trợ tiếp vận, các đơn vị TQLC Việt Nam hoạt động hành quân và duy tŕ truyền thống tự hào binh chủng (esprit de corps) tương tự như các đơn vị bộ chiến của TQLC Hoa Kỳ với phù hiệu, bộ quân phục rằn ri ‘’da cọp’’ và mũ màu xanh riêng biệt .

Hơn nửa theo tài liệu [3] :  Quân phục tác chiến mang họa tiết "rằn ri cọp" (tiger-stripe camouflage), phía Việt Nam Cộng Ḥa gọi là "Sóng Thần" với phù hiệu Sư Đoàn trên tay áo trái, phù hiệu Tiểu đoàn trên tay áo phải, nón beret màu xanh lục đội chếch bên phải có phù hiệu Binh chủng, bằng tốt nghiệp khóa huấn luyện căn bản Thủy Quân Lục chiến may ở túi áo bên phải.

Theo tài liệu [2] : Từ năm 1960 trở đi, nhằm tạo niềm tự hào Binh Chủng (Esprit de Corps), quân phục tác chiến của Binh Chủng màu ngụy trang bệt đen và xanh lá cây sóng biển, c̣n được gọi là da cọp. Huy hiệu Binh Chủng cũng được dùng từ thời gian này, lấy mẫu từ huy hiệu của TQLC Hoa Kỳ, con Ó đứng trên quả cầu, mỏ neo bắt chéo, có thêm đặc điểm là ngôi sao đỏ bên trong có bản đồ Việt Nam màu Vàng. Huy hiệu được gắn trên mũ beret và trên cánh tay áo trái. TQLC cũng dùng mũ lưỡi trai và nón sắt bọc vải ngụy trang như TQLC Hoa Kỳ.

 

Huy hiệu gắn trên nón béret xanh- H́nh trích từ tài liệu [5]

 

Huy hiệu đeo bên cáng tay trái - H́nh trích từ tài liệu [5]

Huy hiệu đeo trước ngực - H́nh trích từ tài liệu [5]

Theo tài liệu [2] : Giữa thập niên 1960, huấn luyện viên quân sự và cơ bản thao diễn tại Trung Tâm Huần Luyện TQLC c̣n dùng mũ nỉ vành rộng màu nâu "Smokey the Bear hat". Quân phục kaki vàng, các loại quân phục dạo phố mủa hè mùa đông và đại lễ cũng tương tự như Hải Quân, nhưng về cấp bậc, thay v́ màu Vàng, TQLC dùng màu kim tuyến Trắng.
Vũ khí trang bị cho TQLC (theo tài liệu [2] ) : Từ khi thành lập cho đến giữa thập niên 1960, TQLC giữ nguyên trang bị các loại vũ khí từ thời Pháp. Đến giữa năm 1963, một số súng AR15 và M79 được trang bị cho TQLC nhưng c̣n mang tính cách trắc nghiệm. Măi đến 1967, TQLC mới hoàn toàn được trang bị súng trường mới M16 cùng với súng phóng lựu M79, đại liên M60 và hỏa tiễn chống chiến xa M72. Trong trận chiến Mùa Hè 1972, TQLC c̣n được trang bi thêm hỏa tiễn điều khiển TOW chống chiến xa.

Năm 1961, Tiểu Đoàn 4 Ḱnh Ngư được thành lập tại thị xă Vũng Tàu và đặt hậu cứ ở trong thị xă .

Hơn nửa theo tài liệu [2] : Tiểu đoàn 4 TQLC được thành lập tại trại Cửu Long, Thị Nghè, Gia Định vào đầu tháng 9 năm 1961. Sau khi hoàn tất huấn luyện, Tiểu đoàn 4 di chuyển đồn trú hậu cứ tại trại Hoàng Hoa Thám, đường Lê Lợi, thị xă Vũng Tàu vào đầu tháng 3 năm 1962. Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên là Đại Úy  Bùi Thế Lân và Tiểu Đoàn  Phó là Đại Úy  Tôn Thất Soạn vừa mản khóa Tham Mưu Hành quân Thủy Bộ Mỹ trở về. Lần xuất quân đầu tiên mang tên Sơn Dương 2, những Cọp Biển  Tiểu đoàn 4 đă thực hiện một cuộc hành quân đổ bộ vô tiền khoáng hậu trong lịch sử TQLC bằng những ghe đánh cá bằng gỗ và những xuồng tam bản trong khi biển động. Không có chiến đỉnh yểm trợ và không có hải pháo dọn băi, Tiểu đoàn 4  đă hành quân tàn phá mật khu Lê Hồng Phong (Sic) ở phía Tây Bắc quận Mũi Né, Phan Thiết, phá hủy toàn bộ các mật khu Đằng Kia, Ara Salour ở Tây Nam Phan Thiết, các doanh trại, các khu canh tác, tịch thu nhiều tiếp liệu phẩm từ miền Bắc đưa vào. Đây là mật khu bất khả xâm phạm từ thời chiến tranh Pháp trước năm 1954.

Các vị Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu đoàn 4 TQLC gồm: Đại Úy  Bùi Thế Lân (1961), Đại Úy Lê Hằng Minh (1963), Thiếu Tá Nguyễn Kiên Hùng (1964), Đại Úy  Nguyễn Văn Nho (1964), Đại Úy Nguyễn Thành Trí (1965), Thiếu Tá Đỗ Đ́nh Vượng (1968), Thiếu Tá  Vơ Kỉnh (1969), Thiếu Tá  Trần Xuân Quang (1971), Thiếu Tá  Nguyễn Đằng Tống (1972), Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn (1973), Thiếu Tá Đinh Long Thành (3/1975), và Thiếu Tá  Trần Ngọc Toàn (4/1975).

Huy hiệu Tiểu Đoàn 4 Ḱnh Ngư – H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

Từ năm 1960 cho đến khi tan hàng vào năm 1975, ngoại trừ Tiểu Đoàn 4 Ḱnh Ngư đóng ở Vũng Tàu, Bộ Tư Lệnh cùng vài đơn vị yểm trợ đóng ở Thị Nghè, Gia Định toàn bộ phần c̣n lại của TQLC đều đóng ở căn cứ Sóng Thần, Rừng Cấm, quận Thủ Đức,tỉnh Gia Định.

Theo tài liệu [2] : Tháng 5 năm 1960, Thiếu Tá Lê Nguyên Khang được bổ nhiệm giữ chức Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn TQLC.

Để yểm trợ đặc biệt cho các cuộc hành quân, các đại đội Yểm Trợ Thủy Bộ, Đại Đội Vận Tăi, Đại Đội Truyền Tin, Đại Đội Quân Y, kế tiếp nhau ra đời.

Năm 1961, TQLC chỉ có một Trung Đội Huấn Luyện đặt tại hậu cứ Tiểu Đoàn 2 TQLC ở Cam Ranh.

 Năm 1962, Trung Đội Huấn Luyện biến thành Đại Đội Huấn Luyện và di chuyển về Trại Yết Kiêu, Thủ Đức,tỉnh Gia Định. Đến năm 1968 theo đà lớn mạnh của binh chủng, Trại Yết Kiêu được cải tổ thành Trung Tâm Huấn Luyện TQLC, tọa lạc tại khu Rừng Cấm, Thủ Đức. Cơ sở  này có đầy đủ phương tiện đầy đủ, có khả năng huấn luyện 20 đại đội tân binh cùng một lúc, cung cấp hàng ngàn tân binh cho các đơn vị tác chiến sau khi được huấn luyện thuần thục.

(Phụ chú : Theo các tin tức cung cấp bởi AI trên mạng (cần phải kiểm chứng thêm ), Trại Yết Kiêu  ở Thủ Đức được thành lập vào năm 1955, ngay sau khi Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Ḥa ra đời ).

 

TQLC Việt Nam được tổ chức tương tự như binh chủng TQLC Hoa Kỳ, dùng cùng một phương pháp huấn luyện và chiến thuật hành quân. Tân binh TQLC trải qua 12 tuần huấn luyện căn bản tác chiến cá nhân như các Trung Tâm Huấn Luyện tân binh khác, c̣n được huấn luyện thêm 4 tuần về hành quân thủy bộ và trực thăng vận. Trung Tâm Huấn Luyện TQLC được coi là quân trường huấn luyện tân binh gian khổ nhất QLVNCH, tương tự như  Trung Tâm Huấn Luyện  Binh Chủng Nhảy Dù.

Theo tài liệu [4] :  Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù  cũng là hai đơn vị bộ chiến duy nhất của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa chỉ nhận lính và sĩ quan t́nh nguyện phục vụ trong binh chủng. Thủy Quân Lục Chiến có 13 toán tuyển mộ trên khắp lănh thổ miền Nam; Và vào năm 1971 trung b́nh nhận khoảng 610 thanh niên t́nh nguyện gia nhập binh chủng hằng tháng, đủ để thay thế những tổn thất chiến trường và duy tŕ quân số khả dụng.

Các sĩ quan chỉ huy mới  của TQLC được tuyển chọn kỹ càng từ Trường Vơ Bị Đà Lạt và Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Các cấp chỉ huy chiến đấu đều trưởng thành và thăng chức từ kinh nghiệm thực tế chiến trường.  Các cố vấn TQLC Hoa Kỳ cũng bắt đầu trực tiếp tham gia chiến đấu với các đơn vị TQLC Việt Nam từ năm 1960, trước hẳn các đơn vị bộ chiến VNCH khác.

Theo tài liệu [2] :  Về chương tŕnh huấn luyện cán bộ, từ cuối năm 1957, sĩ quan TQLC được gửi sang Hoa Kỳ thụ huấn các khóa Sĩ Quan Căn Bản, Sĩ Quan Truyền Tin và Tham Mưu Hành Quân Thủy Bộ ở Trung Tâm Huấn Luyện TQLC Hoa Kỳ tại thành phố Quantico, tiểu bang Virginia. Một số hạ sĩ quan được tuyển chọn gửi qua Trung Tâm Huấn Luyện  HSQ TQLC tại San Diego tiểu bang California, để được huấn luyện về vũ khí, tác chiến cá nhân và cơ bản thao diễn, trở về làm cán bộ huấn luyện tại  Trung Tâm Huấn Luyện TQLC. Các hạ sĩ quan và binh sĩ cũng được gửi đi thụ huấn các ngành chuyên môn tại các quân trường trong nước. Để tạo niềm kiệu hănh "Tinh Thần Binh Chủng" (Esprit de Corps), TQLC VN chỉ thâu nhận những quân nhân t́nh nguyện, từ sỉ quan đến binh sĩ. Các vị CHỈ Huy Trưởng  Trung Tâm gồm Đại Úy Phạm Văn Chung, Đại Úy  Ngô Văn Định, Đại Úy  Hoàng Văn Nam, Trung Tá Phạm Văn Chung, sau cùng là Trung Tá Nguyễn Đức Ân.

Đến ngày 01 tháng 8 năm 1961, quân số Thủy Quân Lục Chiến lên đến 3,321 quân nhân với 4 Tiểu Đoàn Chiến Đấu, một Pháo Đội Pháo Binh và Đại Đội Quân Y.

Theo tài liệu [1] : Năm 1962, Liên Đoàn TQLC đă có quân số là 3.300 quân gồm 1 Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, 4 Tiểu Đoàn Tác Chiến và 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh Cơ Hữu cùng với các đơn vị yểm trợ.

Theo tài liệu [4] :  Binh chủng TQLC sau đó được mở rộng thành Lữ Đoàn TQLC vào ngày 01 tháng 01 năm 1962 với việc thành lập Tiểu Đoàn 4 TQLC (1961), Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh (1962) gồm 2 pháo đội 75 ly và 1 pháo đội 105 ly, Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ với các đại đội Trinh Sát, Vận Tải, Truyền Tin, Quân Y. Quân số binh chủng lên đến 6.149 quân nhân.

Sau chính biến 1963 có thêm Tiểu Đoàn 5 Hắc Long TQLC (1964) và Tiểu Đoàn 6 TQLC (1966) cũng như Trung Tâm Huấn Luyện TQLC ở Rừng Cấm (Thủ Đức) được xây cất vào cuối năm 1963, dựa trên mô phỏng của Trung Tâm Huấn Luyện Tân Binh TQLC Hoa Kỳ ở Parris Island (North Carolina) với các huấn luyện viên đă theo học ở căn cứ Tuyển Mộ Tân Binh của TQLC Hoa Kỳ ở San Diego để duy tŕ tiêu chuẩn cao cho các hoạt động huấn luyện những tân binh t́nh nguyện.

Theo tài liệu [2] : Sau ngày cuộc đảo chánh  lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm 1 tháng 11 năm 1963, Trung Tá Nguyễn Bá Liên lên giữ chức Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn, Thiếu Tá Trần Văn Nhựt giữ chức Chỉ Huy Phó Liên Đoàn.

Năm 1964, Liên Đoàn  TQLC thành lập Tiểu Đoàn 5 Hắc Long .

Huy hiệu Tiểu Đoàn 5 Hắc Long - H́nh trích từ tài liệu [3] 

Theo tài liệu [1]  : Năm 1964  là năm đen tối của Thủy Quân Lục Chiến khi Tiểu đoàn 4 Ḱnh Ngư lọt vào ổ phục kích của Trung đoàn 27 B́nh Giă cộng quân ở vùng rừng cao su B́nh Giă thuộc tiểu khu Phước Tuy. Tuy Tiểu đoàn đă đánh thiệt hại nặng trung đoàn này nhưng chịu thiệt hại cũng không nhỏ, Tiểu đoàn thương vong hơn 60% quân số, Tiểu Đoàn Trưởng lẫn Tiểu Đoàn Phó đều tử trận.

Theo tài liệu [2] : Sau cuộc chỉnh lư đầu năm 1964, Đại Tá Lê Nguyên Khang được tái bổ nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn TQLC,Thiếu Tá Bùi Thế Lân làm Tham Mưu Trưởng.

Theo tài liệu [4] : Do nhu cầu chiến thuật  tăng phái đi từng các Quân Khu và Vùng Chiến Thuật từ năm 1964, nên Lữ Đoàn TQLC chia thành 2 Chiến Đoàn A và B Thủy Quân Lục Chiến. Chiến Đoàn A hay c̣n gọi là Chiến Đoàn An Dương Vương, Chiến Đoàn B hay c̣n gọi là Chiến Đoàn Bắc B́nh Vương để chỉ huy các cuộc hành quân phối hợp .

Đến ngày 01 tháng 7 năm 1964 Lữ Đoàn TQLC có quân số 6,555 quân nhân, tổ chức thành 2 chiến đoàn với 5 tiểu đoàn chiến đấu, 1 tiểu đoàn pháo binh và Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ.

Theo tài liệu [2] : Cuối năm 1964, Trung Tá Nguyễn Thành Yên Chỉ Huy Phó Liên Đoàn kiêm nhiệm chức vụ Chiến Đoàn Trưỏng Chiến Đoàn A . Trung Tá  Tôn Thất Soạn được bổ nhiệm chính thức chức Chiến Đoàn Trưỏng Chiến Đoàn B vào cuối năm 1965. Cuối năm 1967, sau khi thụ huấn khóa Chỉ Huy Tham Mưu Trung Cấp Đà Lạt trở về, Thiếu Tá Hoàng Tích Thông được bổ nhiệm làm Chiến Đoàn Trưỏng Chiến Đoàn A  thay thế Đại Tá Nguyễn Thành Yên lên chức Tư Lênh Phó Lữ Đoàn TQLC.

 Theo tài liệu [4] : Cuối năm 1964 do những yếu kém về t́nh báo và công tác yểm trợ hỏa lực của tỉnh Phước Tuy và Vùng 3 Chiến Thuật, Tiểu Đoàn 4 TQLC bị thiệt hại nặng trong trận đánh B́nh Giă đẫm máu trong tỉnh Phước Tuy khi đơn vị lọt vào trận địa phục kích của hai trung đoàn chủ lực của sư đoàn 9 CSBV (Sic) đang trong giai đoạn h́nh thành được pháo binh (cối 82 ly, ĐKZ 57 ly) yểm trợ trong rừng cao su phía ngoài làng công giáo di cư B́nh Giă .

 Đơn vị thiệt hại nặng với 112 tử trận (bao gồm 29 sĩ quan), 71 bị thương và 13 mất tích. Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó và một Đại Đội Trưởng tử trận, một Đại Đội Trưởng bị thương nặng cùng 2 cố vấn và 2 quan sát viên TQLC Hoa Kỳ. Riêng Đại Úy Donald Cook, một trong 3 quan sát viên của Sư Đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ đồn trú ở Okinawa (Nhật Bản) đang tham quan chiến trường bị thương và bị bắt. Ông chết trong trại tù cộng sản khoảng cuối năm 1967 và được truy tặng huy chương Medal of Honor. Đây là trận đánh mở đầu giai đoạn leo thang chiến tranh tranh ở miền Nam Việt Nam của Hà Nội với các cuộc tấn công ở cấp số trung đoàn.

Theo tài liệu [2] : Vào cuối năm 1964 ,Tiểu Đoàn 5 TQLC được thành lập, hậu cứ tại Suối Lồ Ồ (Dĩ An, Biên Ḥa), trước là Trại Thanh Nữ Cộng Ḥa dưới thời Tổng Thống  Ngô Đ́nh Diệm. Vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Nguyễn Văn Tính. Sau khi huấn luyện và bổ sung quân số và trang bị tại chỗ theo đúng bản cấp số, Tiểu Đoàn 5 được bàn giao cho Thiếu Tá Dương Hạnh Phước và bắt đầu tham dự những cuộc hành quân tại Dakto, Toumorong (Vùng 2 Chiến Thuật), nhất là trận giải vây trại Lực Lượng Biên Pḥng Đức Cơ, nằm sát biên giới Lào-Việt. Sau Thiếu Tá Dương Hạnh Phước, là các vị Tiểu Đoàn Trưởng :  Thiếu Tá Phạm Nhă (1967), Thiếu Tá Trần Văn Hiển (1969), T Thiếu Tá Vơ Trí Huệ (1970), Thiếu Tá Hồ Quang Lịch (1972), Thiếu Tá  Đinh Xuân Lăm (1974), Thiếu Tá  Phạm văn Tiền (1975).

Ngày 05 tháng 1 năm 1965, Binh Chủng TQLC chính thức tách rời khỏi Quân Chủng Hải Quân, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa  về chỉ huy, điều động chiến thuật và yểm trợ tiếp vận. Cùng với Sư Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam và các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến trở thành lực lượng Tổng Trừ Bị chiến lược bên cạnh các đơn vị bạn.

Theo tài liệu [1] : Năm 1965, Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được cải danh thành Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam bao gồm 1 Bộ Chỉ Huy Lữ đoàn, 5 Tiểu đoàn tác chiến, 1 Tiểu đoàn Pháo Binh, Yểm Trợ Thủy Bộ, Quân Y, Công Binh, Viễn Thám, Huấn luyện mỗi loại 1 Đại đội.

Theo tài liệu [4] : Trong trận đánh Phụng Dư ở Bồng Sơn (B́nh Định) vào ngày 08 tháng 4 năm 1965, Tiểu Đoàn 2 TQLC được tăng phái cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh đánh bật 10 đợt tấn công biển người kéo dài 5 giờ đồng hồ của một trung đoàn cộng sản Bắc Việt thuộc sư đoàn 3 CSBV "Sao Vàng" (Sic) khiến cộng quân phải gọi những người lính Cọp Biển của đơn vị này là nhũng "Con Trâu Điên", khai sinh danh hiệu Trâu Điên của tiểu đoàn này cũng như khởi đầu việc đặt danh hiệu cho các tiểu đoàn c̣n lại. Do chiến tích lừng danh này, Tiểu Đoàn 2 TQLC được ân thưởng Presidential Unit Citation của Tổng Thống Hoa Kỳ Johnson, đơn vị đầu tiên của binh chủng TQLC Việt Nam .

Huy hiệu Tiểu Đoàn  2 Trâu Điên - H́nh trích từ tài liệu [3] 

Theo tài liệu [2] : Trong hai tuần lễ diễn biến chính trị đầu tháng 5 năm 1965, Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang được chỉ định kiêm nhiệm chức Tư Lệnh Hải Quân thay thế Đề Đốc Chung Tấn Cang .

Vào cuối năm 1965 ,Trung Tá Tôn Thất Soạn được bổ nhiệm chính thức chức Chiến Đoàn Trưỏng Chiến Đoàn B.

Theo tài liệu [1] : Năm 1966, Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên được tăng phái dưới quyền sử dụng của Sư Đoàn 1 Bộ Binh do Đại Tá Ngô Quang Trưởng làm tư lệnh từ An Ḥa (Huế) di chuyển ra Quảng Trị và bị phục kích tại Phong Điền, Thừa Thiên. Tuy nhiên, Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên đă phản phục kích và tiêu diệt hoàn toàn trung đoàn cộng quân tại đây nhưng mất Trâu Điên Trưởng Lê Hằng Minh cùng với 42 quân nhân khác tử trận, gần 100 người bị thương trong đó có Trung Úy Nguyễn Xuân Phúc.

Năm 1966 ,Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến, Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang được thăng cấp lên Trung Tướng.

Tháng 6 năm 1966, đoàn cố vấn TQLC Hoa Kỳ đề nghị kế hoạch mở rộng binh chủng TQLC Việt Nam, nâng cấp từ lữ đoàn lên Sư Đoàn vào năm 1970.

Thời kỳ năm 1966-1967, Lữ Đoàn vinh dự tiếp nhận thêm 2 Tiểu Đoàn mới nữa là Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng và Tiểu Đoàn 7 Hùng Xám.

Huy hiệu Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng  -  H́nh trích từ tài liệu [3]

Huy hiệu Tiểu Đoàn 7 Hùm Xám- H́nh trích từ tài liệu [3]

Theo tài liệu [2] : Cuối năm 1967, sau khi thụ huấn khóa Chỉ Huy Tham Mưu Trung Cấp Đà Lạt trở về, Thiếu Tá Hoàng Tích Thông được bổ nhiệm làm Chiến Đoàn Trưỏng Chiến Đoàn A  thay thế Đại Tá Nguyễn Thành Yên lên chức Tư Lênh Phó Lữ Đoàn TQLC.

Thiệp chúc Tết Xuân Đinh Mùi 1967 của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến-H́nh trích từ tài liệu [6] 

 

 

Thiệp chúc Tết Xuân Mậu Thân 1968 của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến -H́nh trích từ tài liệu [6] 

Theo tài liệu [4] : Trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 bởi giặc cộng, Lữ Đoàn TQLC là nỗ lực chính giải tỏa hướng đông-bắc thủ đô Ság̣n trong khu vực B́nh Ḥa, G̣ Vấp, và B́nh Lợi,tỉnh Gia Định. Là một trong các nỗ lực chính giải tỏa Thành Nội Huế bị cộng quân chiếm giữ, Chiến Đoàn A TQLC đă tái chiếm lại kỳ đài ở Đại Nội (nhưng theo yêu cầu của Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, đă nhường nhiệm vụ thượng kỳ VNCH lại cho Đại Úy Phạm Văn Đính của Sư Đoàn 1 Bộ Binh). Với chiến công này, Chiến Đoàn A cùng Tiểu Đoàn 1 và 4 TQLC đă được ân thưởng Presidential Unit Citation của Tổng Thống Johnson trong khi Tiểu Đoàn 5 TQLC được ân thưởng Valorous Unit Award.

Tài liệu [1]  viết : Năm 1968 là năm thành công của Thủy Quân Lục Chiến khi tất cả Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến đều lập chiến công trong các cuộc hành quân giải tỏa Biệt khu Thủ Đô-Sàig̣n, Chiến Đoàn A Thủy Quân Lục Chiến hành quân giải tỏa Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Theo tài liệu [4] : Sau Tết Mậu Thân 1968, binh chủng TQLC thành lập thêm Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh TQLC (tháng 4 năm 1969), Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh TQLC (tháng 11 năm 1969) và Tiểu Đoàn 7 TQLC (tháng 12 năm 1969).

Theo tài liệu  [1] :  Giữa năm 1968, Lữ Đoàn được cải danh thành Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, Chiến Đoàn A và B được cải danh thành Lữ Đoàn 147 và Lữ Đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến. Các đơn vị yểm trợ như Quân Y, Truyền Tin, Công Binh, Viễn Thám, Huấn luyện được tăng cấp thành Tiểu Đoàn.

Theo tài liệu [2] : Ngày 01 tháng 10 năm 1968, hai BCH (Ban Chỉ Huy) Chiến Đoàn A và B được cải danh thành hai BCH Lữ Đoàn 147 và 258.

Hơn nửa theo tài liệu [4] : Ngày 01 tháng 10 năm 1968, kỷ niệm 14 năm thành lập, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được h́nh thành nhưng chưa đầy đủ sức mạnh chiến đấu. Lúc đó, Sư Đoàn được h́nh thành với Lữ Đoàn A (tiền thân của Lữ Đoàn 147) và Lữ Đoàn B (tiền thân của Lữ Đoàn 258) để chỉ huy 6 tiểu đoàn bộ chiến cùng một tiểu đoàn pháo binh.

Huy hiệu Lữ Đoàn A TQLC- H́nh trích từ tài liệu [3] 

Huy hiệu Lữ Đoàn B TQLC- H́nh trích từ tài liệu [3] 

Theo tài liệu [2] : Ngày 01 tháng 10 năm 1968, hai Ban Chỉ Huy Chiến đoàn A và B được cải danh thành hai Ban Chỉ Huy Lữ Đoàn 147 và 258. Sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, tháng 4 năm 1971, Đại Tá Hoàng Tích Thông rời Binh Chủng, bàn giao Lữ Đoàn 147 cho Trung Tá Nguyễn Năng Bảo, lúc Lữ Đoàn đang đóng tại khu vực La Vang.

Theo tài liệu [2] :  Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Ḥa (tiếng Anh: Republic of Vietnam Marine Division, RVNMD) là một đại đơn vị quy mô cấp Sư Đoàn,trực thuộc lực lượng Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Được xem là một trong 4 lực lượng thiện chiến cơ động nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (3 lực lượng c̣n lại gồm Sư Đoàn Nhẩy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa,Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù và Lực Lượng Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Ḥa).
Nhiệm vụ chính của lực lượng cơ động Hành Quân Thủy Bộ,kiểm soát vùng biển và sông ng̣i Miền Nam,với địa bàn chiến đấu khắp bốn vùng chiến thuật và mặt trận ngoại biên.
Đây là đơn vị được tổ chức,chiến đấu và huấn luyện rập khuôn theo Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (USMC),được nhận xét như là đơn vị thiện chiến dày dặn kinh nghiệm nhất trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .

Theo tài liệu  [7] : Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Ḥa c̣n có tên khác là Cọp Biển - Sóng Thần.

Quân Kỳ Sư Đoàn TQLC cũ – H́nh trích từ tài liệu [5] 

Quân Kỳ Sư Đoàn TQLC – H́nh trích từ tài liệu [5] 

Huy_hi%25E1%25BB%2587u_S%25C6%25B0_%25C4%2591o%25C3%25A0n_Th%25E1%25BB%25A7y_qu%25C3%25A2n_l%25E1%25BB%25A5c_chi%25E1%25BA%25BFn_Vi%25E1%25BB%2587t_Nam_C%25E1%25BB%2599ng_h%25C3%25B2a

Huy hiệu Binh chủng Thủy quân Lục Chiến- H́nh trích từ tài liệu  [8] 

Theo tài liệu [7] : Khẩu hiệu  của Sư Đoàn TQLC  là : Chinh Nam dẹp Bắc - Quyết Tiến Quyết Tử .

Bài ca chính thức của Sư Đoàn  là Thủy Quân Lục Chiến Hành Khúc.

Bài ca Thủy Quân Lục Chiến Hành Khúc – H́nh trích từ tài liệu [5] 

Năm 1969, Tiểu Đoàn 8 Ó Biển và Tiểu Đoàn 9 Mănh Hổ cùng với Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Thần Tiễn được thành lập.

Huy hiệu Tiểu Đoàn 8 Ó Biển - H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 9 Mănh Hổ - H́nh trích từ tài liệu [3] 

Theo tài liệu [4] : Trong một trận đánh ác liệt gần Biên Hoà trong tháng 02 năm 1969, Tiểu Đoàn 5 TQLC được ân thưởng huy chương U.S. Navy Unit Commendation.

Trong thập niên 1960 các tiểu đoàn TQLC (đặc biệt là Chiến Đoàn B, sau thành Lữ Đoàn B) cũng thường xuyên hoạt động trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long phối hợp với các đơn vị bạn cũng như Lực Lượng Cơ Động Sông Ng̣i (Mobile Riverine Force) của quân đội Hoa Kỳ, gây nhiều cảm phục cho các quân nhân Hoa Kỳ.

Để thay thế Lực Lượng Cơ Động Sông Ng̣i của Hoa Kỳ bắt đầu triệt thoái, Lữ Đoàn B TQLC kết hợp cùng Hải Quân Vùng 4 Sông Ng̣i thành Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211 với bộ chỉ huy ở căn cứ Đồng Tâm gần Mỹ Tho, hành quân thường trực từ giữa năm 1969 ở khu vực U Minh , Chương Thiện và Định Tường-Kiến Ḥa.

Váo năm 1969  này, quân số Sư Đoàn  TQLC đă lên đến 9,300 quân nhân trong khi Đoàn Cố Vấn TQLC Hoa Kỳ có 47 sĩ quan cố vấn và 9 hạ sĩ quan chuyên môn. Mỗi tiểu đoàn TQLC khi này có hai sĩ quan cố vấn do các tiểu đoàn chiến đấu TQLC thường phân chia thành 2 nhóm chiến đấu Alpha và Bravo do tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó chỉ huy. Vào giai đoạn này, các cố vấn TQLC Hoa Kỳ mặc dầu đă từng chiến đấu ở Quân Khu 1 với các đơn vị TQLC Hoa Kỳ trước đây, thường đảm nhiệm chủ yếu việc phối hợp yểm trợ hỏa lực và tiếp vận v́ về kinh nghiệm chiến trường của họ th́ không thể nào bù được với các cấp chỉ huy chiến đấu của TQLC Việt Nam.

Theo tài liệu [2] : Ngày 01 tháng 6 năm 1969, Tiểu Đoàn 7 TQLC được thành lập tại Rừng Cấm, Thủ Đức. Sau đó Tiểu Đoàn 7  di chuyển huấn luyện bổ túc đơn vị tại Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp, Bà Rịa trong ṿng 3 tháng. Tiểu đoàn 7 TQLC sẵn sàng tham dự vào cuộc hành quân đầu tiên với Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211 nhằm thay thế cho Sư đoàn 9 Riverine, rút về nước, trong vùng Kiến Ḥa, Mỹ Tho, Chương Thiện. Vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Phạm Nhă và Thiếu Tá Trần Xuân Quang giữ chức Tiểu Đoàn Phó. Các Đại Đội Trưởng gồm: Đại Úy Trần Ba ĐĐ1, Trung Úy Nguyễn Xuân Quang ĐĐ2, Trung Úy Nguyễn Văn Sử ĐĐ3, Trung Úy  Nguyễn Văn Lộc ĐĐ4, và Trung Úy  Nguyễn Văn Ḥa ĐĐCH. Các vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 gồm: Trung Tá Phạm Nhă (1969), Thiếu Tá Vơ Trí Huệ (1971), Thiếu Tá Nguyễn Văn Kim (1972) và Thiếu Tá  Phạm Cang (1974).

Vào cuối năm 1969 ,Tiểu Đoàn 8 TQLC được thành lập. Thiếu Tá Phạm Văn Sắt là vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên. Sau khi bị thương tại chiến trường Cam Bốt, Thiếu Tá Phạm Văn Sắt bàn giao Tiểu Đoàn lại cho Thiếu Tá  Nguyễn văn Phán. Vị Tiểu Đoàn Trưởng sau cùng là Trung Tá Nguyễn Đăng Ḥa.

 

 

Thiệp chúc Tết Xuân Kỷ Dậu 1969 của Binh Chủng Thuỷ Quân Lục Chiến - H́nh trích từ tài liệu [6] 

 
Theo tài liệu [1] : Đầu năm 1970, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nỏ Thần và Bệnh Viện Lê Hữu Sanh thuộc Tiểu Đoàn Quân Y được thành lập. Cùng lúc đó, Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến ra đời.

Hơn nửa theo tài liệu [2] : : V́ nhu cầu chiến trường, BCH Liên Đoàn 369 được thành lập vào cuối tháng 11 năm 1969, Trung Tá Ngô Văn Định là vị Liên Đoàn Trưởng đầu tiên.

Theo tài liệu [4] : Trong năm 1970, Tiểu Đoàn 9 TQLC và Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh TQLC được thành lập .  Sư Đoàn TQLC với quân số và trang bị đầy đủ được tái tổ chức với 3 lữ đoàn chiến đấu mang số 147, 258 và 369 (thành lập cuối năm 1969). Mỗi lữ đoàn chỉ huy 3 tiểu đoàn chiến đấu (được gom lại thành số hiệu lữ đoàn) và một tiểu đoàn pháo binh yểm trợ nhưng trên thực tế chiến trường cấu trúc các lữ đoàn thường thay đổi tùy theo nhu cầu chiến thuật. Với quân số đầy đủ trên 900 người .

Theo tài liệu [2] : Vào tháng 3 năm 1970, Tiểu Đoàn 9 TQLC được thành lập. Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Kim Đễ, Đại Úy Dương Văn Hưng TĐP. Các Đại Đội Trưởng là: Trung Úy Trần Công Giáo ĐĐ1, Trung Úy Lê Thắng ĐĐ2, Trung Úy Đoàn Văn Tịnh ĐĐ3, Trung Úy  Nguyễn Mạnh Trí ĐĐ4, Đại Úy  Ngô Đ́nh Lợi ĐĐCH, và Trung Úy Hoàng Đôn Tuấn Trưởng Ban 3. Đơn vị tham dự hành quân đầu tiên tại Cam Bốt với trận giải tỏa đèo Pic Nil. Sau chiến dịch tái chiếm Cổ Thành và b́nh định Tỉnh Quảng Trị hoàn tất, tháng 8 năm 1973, Trung Tá Đễ  Nguyễn Kim bàn giao Tiểu Đoàn 9 cho Trung Tá Huỳnh Văn Lượm để đảm nhận chức vụ Trưởng Pḥng 3/SĐ. Tháng 10 năm 1974, Thiếu Tá Lâm Tài Thạnh thay thế Trung Tá Huỳnh Văn Lượm giữ chức Tiểu Đoàn Trưởng. Trận đánh sau cùng của  Tiểu Đoàn 9 đă xảy ra tại bờ biển Mỹ Khê, Đà Nẵng vào chiều tối 29 tháng 3 năm 1975 khi  SĐ/TQLC đă rút khỏi nơi này với nhiều tổn thất nặng nề.

Tháng 6 năm 1970, Đại Tá Soạn bàn giao Lữ Đoàn 258 lại cho Trung Tá Nguyễn Thành Trí để theo học Khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Đà Lạt. Sau khóa học, Đại Tá Soạn về giữ chức Trưởng Pḥng Tổng Thanh Tra SĐ/TQLC.

Đầu tháng 4 năm 1971, Trung Tá Nguyễn Thành Trí được vinh thăng Đại Tá.

Đến tháng 7 năm 1971, tại căn cứ hành quân ở Mai Lộc, Quảng Trị, Đại Tá  Nguyễn Thành Trí  bàn giao Lữ Đoàn 258 lại cho Trung Tá Ngô Văn Định vừa măn khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp (CHTMCC) Đà Lạt, để du học khóa Command and Staff College TQLC Hoa Kỳ. Khi trở về, Đại Tá  Nguyễn Thành Trí  được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Phó Sư Đoàn.

Tháng 01 năm 1971, Sư Đoàn TQLC tiếp nhận căn cứ của Sư Đoàn 1 Lục Quân Hoa Kỳ tại Rừng Cấm, nằm tiết giáp 3 quận Thù Đức, Dĩ An và Lái Thiêu, cải danh thành căn cứ Sóng Thần.

Cổng chính vào Căn cứ Sóng Thần, Rừng Cấm - Hậu cứ Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến – H́nh trích từ tài liệu [5] 

Theo tài liệu [2] : Căn cứ  này có phi trường cho phi cơ vận tải C-123 đáp được và băi đậu trực thăng cho 1 phi đoàn. Các đơn vị đồn trú, luôn cả Trại Gia Binh, Chợ Sóng Thần, và trường Trung Học Quân Đội, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh, có Trung Tâm Huấn Luyện, Sân Bắn, hậu cứ các Ban Chỉ Huy Lữ Đoàn 147,258,369 và 468. Các Tiểu Đoàn 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 14, 16, 18 và 3 Tiểu Đoàn Pháo Binh, Tiểu Đoàn Công Binh, Tiểu Đoàn  Quân Y, TDYTTB (Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Binh) và Đại Đội Thủy Xa LVT-5. Căn Cứ c̣n có 1 pháo đội 105 TQLC thường trực để yểm trợ cho cả ba Quận Lái Thiêu, Dĩ An và Thủ Đức cho đến ngày 30/4/1975. Riêng hậu cứ T Tiểu Đoàn vẫn ở Vũng Tàu. Các vị Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ gồm: Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn (1/1971), Thiếu Tá Lê Bá B́nh (8/1972), Đại Tá Nguyễn Năng Bảo (11/1974),  Thiếu Tá Trần Vệ Xử Lư Thường Vụ (12/1974), Trung Tá Nguyễn Đức Ân (1975).

 Theo tài liệu [1] : Cho đến khi nổ ra các cuộc hành quân tiến sang Cam Bốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Sư Đoàn TQLC đă hoàn chỉnh gồm Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn, 3 Lữ Đoàn tác chiến và các đơn vị yểm trợ, Tiểu Đoàn Thiết Giáp Thủy Bộ (xe thiết giáp Lưỡng Cư ?), Tiểu Đoàn Huấn Luyện, Khối Bổ Sung, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh. Tổng số quân của toàn Sư Đoàn là 16.000 quân nhân.

Hơn nửa theo tài liệu  [3] : Đơn vị trực thuộc Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến gồm có  :  Trung Tâm Huấn Luyện căn cứ Sóng Thần , Tiểu Đoàn Huấn Luyện Căn cứ Sóng Thần , Khối Bổ Sung , Bệnh Viện Lê Hữu Sanh , Bộ Chỉ Huy Pháo Binh , Tiểu Đoàn 1 (Lôi Hỏa) ,Tiểu Đoàn 2 (Thần Tiễn) ,Tiểu Đoàn 3 (Nỏ Thần),Tiểu Đoàn 4 (Tân Lập) .

Theo tài liệu [2] : Liên Đoàn 369  vừa  thành lập xong , vào tháng 4 năm 1970 đă  xuất quân sang Cam Bốt tham dự cuộc hành quân Toàn thắng 42 do Quân Đoàn IV tổ chức, thay thế Đại Tá Tôn Thất Soạn và BCH Liên Đoàn  258 trở về hậu cứ.

Theo tài liệu [4] : Vào tháng 5 năm 1970, Lữ Đoàn 258 TQLC với Tiểu Đoàn 1, 4 và 5 TQLC và một pháo đội của Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh TQLC tham gia cuộc hành quân Cửu Long của Quân Đoàn 4 vượt biên sang Cam Bốt đánh phá các căn cứ bí mật của cộng sản Bắc Việt (Sic) trong khu vực Neak Lương, cũng như tiến hành chiến dịch Trần Hưng Đạo yểm trợ hồi cư Việt Kiều sinh sống ở Cam Bốt đang bị kỳ thị và khủng bố. Sau đó Lữ Đoàn 147 và 369 TQLC với Tiểu Đoàn 2, 3, 6, 7 và 8 TQLC cũng tham gia.

Cuối tháng 12 năm 1970, Trung Tá  Ngô Văn Định bàn giao Liên Đoàn 369 cho Trung Tá Phạm Văn Chung để về nước theo học khóa CHTM Cao Cấp Đà Lạt.

 Đầu năm 1971 ,Sư Đoàn TQLC được trực thăng vận đến Khe Sanh tham gia chiến dịch Hạ Lào (Hành Quân Lam Sơn 719). Khởi đầu là trừ bị chiến dịch với hai Lữ Đoàn 147 và 258 làm nút chận cho quân bạn là Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh và Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân rút lui.

 Sau khi Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù và Liên Đoàn 1 BĐQ bị thiệt hại nặng và Sư Đoàn 1 BB được giao nhiệm vụ thay thế Nhảy Dù để vào mục tiêu Tchepone th́ Lữ Đoàn 147 và 258 TQLC vào thay Sư Đoàn 1 Bộ Binh để bảo vệ mặt Nam của cuộc tiến quân. Trong khi đó, Lữ Đoàn 369 TQLC được di chuyển từ Sàig̣n ra Khe Sanh làm đơn vị trừ bị. Đại Tá Bùi Thế Lân, tư lệnh phó Sư Đoàn TQLC chỉ huy cuộc hành quân cấp sư đoàn đầu tiên trong lịch sử binh chủng.

Theo tài liệu [2] : Liên Đoàn 369  chấm dứt hành quân tại xứ Chùa Tháp cuối tháng 01 năm 1971 trở về nước tham dự hành quân Lam Sơn 719 tại vùng Khe Sanh, Quảng Trị. Trung Tá Phạm Văn Chung được vinh thăng Đaị Tá tháng 6 năm 1971 sau cuộc hành quân Lam Sơn 810 tại mật khu Ba Ḷng.

Sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, tháng 4 năm 1971, Đại Tá Hoàng Tích Thông rời binh chủng, bàn giao Lữ Đoàn 47 cho Trung Tá Nguyễn Năng Bảo, lúc Ban Chĩ Huy Lữ Đoàn  đang đóng tại khu vực La Vang, Quảng Trị.

Tháng 5 năm 1972, Đaị Tá Phạm Văn Chung bàn giao Liên Đoàn 369 cho Trung Tá Nguyễn Thế Lương để đảm nhận chức vụ Tham Mưu Trưởng Hành Quân Sư Đoàn.

Sau chiến dịch tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, Trung Tá Nguyễn Thế Lương được vinh thăng Đại Tá.

 

Thiệp chúc Tết Xuân Nhâm Tư 1972 của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến- H́nh trích từ tài liệu [6] 

 

Theo tài liệu [2] : Tháng 7 năm 1974, Đại Tá Nguyễn Thế Lương bàn giao Liên Đoàn 369 cho Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc để về Sài G̣n theo học khóa CHTMCC.

Tháng 7 năm 1974, Trung Tá Đỗ Hữu Tùng Xử Lư Thường Vụ Liên Đoàn Trưởng 147 thế Đại Tá Nguyễn Năng Bảo theo học khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Long B́nh.

Tháng 11 năm 1974, Đại Tá Nguyễn Thế Lương sau khi măn khóa học CHTMCC, giữ chức vụ Liên Đoàn Trưởng 147 thay Trung Tá Đỗ Hữu Tùng và chỉ huy Liên Đoàn cho đến cuối tháng 3 năm 1975, khi toàn bộ Liên Đoàn bị cộng quân bao vây trên lộ tŕnh triệt thoái từ Huế về Đà Nẵng dọc theo bờ biển, bị bắt làm tù binh gần cửa biển Thuận An, Huế.

Tháng 12 năm 1974, Đại Tá Ngô Văn Định bàn giao Lữ Đoàn 258 cho Đại Tá Nguyễn Năng Bảo vừa măn khóa học CHTMCC, để đi thành lập Lữ Đoàn 468.

Từ năm 1970 đến 1975 ,Đại Tá Lê Đ́nh Quế, giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Trước đó nhiều năm, ông giữ chức Tham Mưu Phó Hành Quân Tiếp Vận, Chánh Văn Pḥng cho Tướng Tư Lệnh Lê Nguyên Khang và là sĩ quan tham mưu ở Bộ Chỉ Huy khi Binh Chủng c̣n là Liên Đoàn và Lữ Đoàn.

 

Thiệp chúc Tết năm Qúy Sửu 1973 của Tiểu Đoàn 5 Thuỷ Quân Lục Chiến – H́nh trích từ tài liệu [6] 

 

 

 

Thiệp chúc Xuân Giáp Dần 1974 của Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Thuỷ Quân Lục Chiến– H́nh trích từ tài liệu [6] 

 

 

Thiệp chúc Tết Xuân Giáp Dần 1974 của Tiểu Đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến - H́nh trích từ tài liệu [6] 

 

 

Theo tài liệu [4] : Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù cũng là hai đơn vị bộ chiến duy nhất của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa chỉ nhận lính và sĩ quan t́nh nguyện phục vụ trong binh chủng. Thủy Quân Lục Chiến có 13 toán tuyển mộ trên khắp lănh thổ miền Nam; Và vào năm 1971 trung b́nh nhận khoảng 610 thanh niên t́nh nguyện gia nhập binh chủng hằng tháng, đủ để thay thế những tổn thất chiến trường và duy tŕ quân số khả dụng. Các cấp chỉ huy chiến đấu đều trưởng thành và thăng chức từ kinh nghiệm thực tế chiến trường. Các cố vấn TQLC Hoa Kỳ cũng bắt đầu trực tiếp tham gia chiến đấu với các đơn vị TQLC Việt Nam từ năm 1960, trước hẳn các đơn vị bộ chiến VNCH khác.

Trong thập niên 1960 các tiểu đoàn TQLC (đặc biệt là Chiến Đoàn B, sau thành Lữ Đoàn B) cũng thường xuyên hoạt động trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long phối hợp với các đơn vị bạn cũng như Lực Lượng Cơ Động Sông Ng̣i (Mobile Riverine Force) của quân đội Hoa Kỳ, gây nhiều cảm phục cho các quân nhân Hoa Kỳ.

Ngày 02 tháng 3 năm 1971, Lữ Đoàn 147 TQLC với Tiểu Đoàn 2, 4 và 7 TQLC và một pháo đội hỗn hợp 105/155 ly của Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh TQLC xuống căn cứ Delta. Sau đó Lữ Đoàn 258 TQLC với Tiểu Đoàn 1, 3 và 8 TQLC và pháo đội của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh TQLC xuống căn cứ Hotel trên dăy núi Cô Rốc ngay biên giới Việt-Lào.

Trong giai đoạn triệt thoái đẫm máu ra khỏi Hạ Lào, hai căn cứ Delta và Hotel của TQLC bắt đầu hứng trọn gánh nặng phản công truy kích của  cộng quân Bắc Việt từ hướng tây cũng như cuộc đột kích theo kiểu "vu hồi" của sư đoàn 324B cộng quân từ thung lũng A Shau di chuyển lên từ hướng nam. Trung Đoàn 29 và Trung Đoàn 803 thuộc sư đoàn 324B Bắc Việt tung ra nhiều đợt tấn công biển người ghê gớm. Bọn chúng được yểm trợ bởi hàng loạt đợt pháo kích nặng và 10 chiến xa PT-76 trang bị súng phun lửa. Phía bên này, Lữ Đoàn 147 TQLC đă chống trả hết sức anh dũng và kịch liệt, nhưng cuối cùng lữ đoàn cũng phải mở đường máu rút lui ở căn cứ Delta trong đêm 22 tháng 3 năm 1971 sau khi tiêu diệt 3 chiến xa địch quân, cạn dần đạn dược và tiếp tế trong khi hỏa lực pháo binh và pḥng không ác liệt của Bắc quân đă khiến các hoạt động không yểm, tiếp tế và tải thương không thực hiện được .

Ngoài việc vào sát ṿng đai pḥng thủ căn cứ Delta, bọn cộng quân sư đoàn 324B cũng đă xâm nhập vào khu vực triệt thoái của lính Thủy Quân Lục Chiến ở giữa 2 căn cứ Delta và Hotel. Dù đă bị thương, ba viên sĩ quan tiểu đoàn trưởng (đặc biệt là Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc của Tiểu Đoàn 2 TQLC) cũng như các cấp chỉ huy dưới quyền đă duy tŕ đội ngũ và chỉ đạo cuộc rút quân hữu hiệu trong hoàn cảnh đầy khó khăn.

Theo tài liệu [1] : Lữ Đoàn 147 gồm các tiểu đoàn 2, 4, 7 Thủy Quân Lục Chiến chịu thiệt hại nặng, mất hơn 70% quân số khi cộng quân mở cuộc tấn công vào pḥng tuyến của Lữ Đoàn. Đây được coi là chiến dịch thất bại nặng nề nhất của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến tính đến thời điểm đó.

Theo tài liệu [4] : Theo các cố vấn TQLC Hoa Kỳ, dù bị thiệt hại khá nặng, Lữ Đoàn 147 TQLC đă trong t́nh trạng sẵn sàng chiến đấu 24 giờ sau khi về đến Khe Sanh.

Các đơn vị pháo binh Hoa Kỳ và VNCH cũng đă triệt thoái khỏi khu vực biên giới Lào-Việt, ngoài tầm bắn yểm trợ. Ưu tiên của các hoạt động không yểm tập trung vào việc triệt thoái Sư Đoàn 1 BB và lực lượng đặc nhiệm Nhảy Dù-Thiết Kỵ dọc theo Quốc Lộ 9. Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm (Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và là người chỉ huy tổng quát cuộc hành quân Lam Sơn 719) sau những hiềm khích cá nhân với tướng Lê Nguyên Khang (Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC) đă không chấp thuận việc triệt thoái của lính Cọp Biển nhưng đ̣i hỏi việc di tản pháo đội pháo binh ra khỏi căn cứ Delta trong hoàn cảnh trực thăng không thể nào đáp xuống căn cứ một cách an toàn.

Tướng Lăm đă phán một câu sau những thiệt hại khá nặng của Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Thiết Giáp và Sư Đoàn 1 Bộ Binh đến lượt TQLC phải chấp nhận thiệt hại để bảo vệ cho nỗ lực triệt thoái theo Quốc Lộ 9 (theo tường thuật của cố vấn TQLC Hoa Kỳ). Lữ Đoàn 258 TQLC sau đó cũng triệt thoái khỏi căn cứ Hotel vào ngày 25 tháng 3 năm 1971 bằng các trực thăng của lực lượng đặc nhiệm TQLC Hoa Kỳ đang có mặt trên Hạm Đội 7 ở ngoài khơi Việt Nam sau những bàn luận giữa Đại Tá Lân và Đại Tá Francis W. Tief, cố vấn trưởng và được sự đồng ư của tướng Khang ở Saigon mà không thông qua tướng Lăm. Tướng Lăm đă nổi giận và yêu cầu gởi hai toán trinh sát TQLC xuống đỉnh núi Cô Rốc để thăm ḍ các lực lượng truy đuổi của Bắc quân nhưng không biết Đại Tá Bùi Thế Lân có thi hành lệnh này hay không v́ đó là một nhiệm vụ cảm tử không thành (theo tường thuật của cố vấn TQLC Hoa Kỳ .

Mặc dầu thiệt hại nhẹ hơn các đơn vị bạn như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Sư Đoàn 1 Bộ Binh và Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh, sau 20 ngày tham gia vào giai đoạn cuối của chiến dịch Hạ Lào, Sư Đoàn TQLC thiệt hại 335 tử trận, 768 bị thương và 37 mất tích trong khi gây thiệt hại cho trên 2,000 cộng quân Bắc Việt với xác chết nằm la liệt xung quanh hai căn cứ Delta và Hotel. Thủy Quân Lục Chiến tịch thu hay phá hủy trên 800 vũ khí và 3 chiến xa PT-76 . Chấn động tinh thần mạnh nhất là những đồng đội hy sinh và bị thương nặng không thể di tản phải nằm lại trên đất Lào. Tuy vậy Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm, tư lệnh chiến dịch đă nói, "Sao TQLC nó về nhiều thế nhỉ."

Theo tài liệu [1] : Sau chiến dịch Lam Sơn 719, Tiểu Đoàn 9 được tăng phái cho Sư Đoàn 1 Bộ Binh giải tỏa Động A Tây, thu hồi 100 thi hài quân bạn.

Mùa hè Đỏ Lửa năm 1972, cả 3 Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến cùng với Sư Đoàn 3 Bộ Binh thay phiên nhau chống đỡ cuộc tấn công dữ dội và thần tốc của cộng quân và sau khi Quảng Trị mất, Lữ Đoàn 258 và Lữ Đoàn 369 nhận lệnh trấn đóng tuyến đầu của Quân Đoàn 1 chặn đối phương tại tuyến sông Mỹ Chánh để Lữ Đoàn 147 mở các cuộc tấn công giới hạn qua bên kia sông nhằm phá hủy các nỗ lực tiếp liệu và tuyến tiếp vận của đối phương, sau đó cùng với Sư Đoàn Dù mở cuộc phản công tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng với phần lớn sức tấn công là từ yểm trợ không quân của Mỹ.

 

May+13%252C+1972+-+South+Vietnamese+Marines+walk+to+load-up+points+at+the+start+of+counter-offensive+against+North+Vietnamese-hled+territory+near+Quang+Tri+City_result

Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiếndi chuyển đến các điểm tập trung để bắt đầu cuộc phản công vào  thành phố Quảng Trị chiếm đóng bởi cộng  quân Bắc Việt  ngày 13 tháng 5 năm 1972 -H́nh trích từ tài liệu [8]

 

Theo tài liệu [1] : Ngày 16 tháng 9 năm 1972, chiến sĩ của 2 Tiểu Đoàn 3 và 6 Thủy Quân Lục Chiến đă kéo cờ lên Thành Cổ. Để tái chiếm được Cổ Thành, hơn 3.500 lính Mũ Xanh tử trận và hàng ngàn lính khác bị thương. Đây cũng là lần cuối cùng mà các Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến dành chiến thắng về mặt chiến thuật trước khi Hiệp Định Paris được kư kết.

Cuối năm 1972 đầu năm 1973, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến tham gia các cuộc hành quân “Sóng Thần” nhằm tái chiếm các vùng khác của tỉnh Quảng Trị. Đến cuối tháng 01 năm 1973, khi Hiệp định Paris được kư, Sư Đoàn cũng đă kiệt sức do tổn thất quá lớn.

Từ cuối năm 1973 đến giữa năm 1974, thành lập Biệt Đội Sóng Thần với quân số hơn 100 tay súng, sau đó giải tán và sát nhập vào Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên.

Theo tài liệu [2] : Tháng 7 năm 1974, Trung Tá  Đỗ Hữu Tùng Xử Lư Thường Vụ Lữ Đoàn  Trưởng 147 thế Đại Tá Bảo theo học khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Long B́nh.

Tháng 11 năm 1974, Đại Tá Nguyễn Thế Lương sau khi măn khóa học CHTM Cao Cấp, giữ chức vụ Lữ Đoàn  Trưởng 147 thay Trung Tá Tùng và chỉ huy Lữ Đoàn  cho đến cuối tháng 3 năm 1975, khi toàn bộ Lữ Đoàn 147 bị cộng quân bao vây trên lộ tŕnh triệt thoái từ Huế về Đà Nẵng dọc theo bờ biển, bị bắt làm tù binh gần cửa biển Thuận An, Huế.

Đầu năm 1975, thực hiện kế hoạch tăng cường lực lượng Tổng Trừ Bị của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, Sư Đoàn TQLC đă tiến hành việc thành lập Lữ Đoàn 468 với ba Tiểu Đoàn 14, 16, 18 và Tiểu đoàn 4 Pháo Binh (theo tài liệu [1]). Để thành lập các tiểu đoàn trên, từ những tháng cuối năm 1974, mỗi tiểu đoàn TQLC thành lập thêm một đại đội thứ 5 để đưa qua các tiểu đoàn tân lập. Đến đầu tháng 01 năm 1975, việc thành lập Lữ Đoàn 468 và ba Tiểu Đoàn TQLC tân lập bắt đầu thành h́nh. Các sĩ quan sau đây đă được bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy: Đại Tá Ngô Văn Định Lữ Đoàn Trưởng, Trung Tá Nguyễn Văn Cảnh, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 14, Thiếu Tá Đinh Xuân Lăm, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 16, Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8,  Đại Úy Nguyễn Văn Vinh, Pháo Đội Trưởng Pháo Đội P/105 ly. Sau đó toàn bộ Lữ Đoàn được không vận và thủy vận về tiếp nhận hậu cứ trong căn cứ Sóng Thần, Dĩ An. Tháng 02 năm1975 ,Lữ Đoàn 468 được tăng phái cho Tiểu Khu Long An, mở những cuộc hành quân càn quét, t́m và tiêu diệt địch tại quận Bến Lức. Tháng 3 năm 1975, Lữ Đoàn  468 được không vận ra Đà Nẵng, gia nhập với Sư Đoàn TQLC đang hành quân tại đây. Tiếp tục hoàn tất việc thành lập Tiểu Đoàn 18, Lữ Đoàn được lệnh thay thế Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù pḥng thủ khu vực đèo Hải Vân. Tiểu Đoàn 18 chưa hoàn tất thành lập đơn vị th́ xảy ra biến cố Sư Đoàn  TQLC di tản chiến thuật khỏi Vùng 1 cuối tháng 3 năm 1975.

Với khả năng chiến đấu hữu hiệu trên mọi chiến trường và mọi địa thế, với nghệ thuật lănh đạo và chỉ huy vững vàng của hệ thống cán bộ các cấp trong Binh Chủng TQLC, nên từ đầu năm 1974, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH có kế hoạch thành lập thêm một Sư Đơàn TQLC thứ hai, nhưng chưa thực hiện được v́ cuộc tổng tấn công của cộng quân vào đầu năm 1975. Tuy nhiên, SĐ/TQLC đă thành lập được 4 Lữ Đoàn và các đơn vị Yểm Trợ và Hậu Cứ, quân số có lúc đă lên đến gần 16000 người.

 Mặt khác theo tài liệu [1] :  Quân số lúc này (vào năm 1974) của Sư Đoàn TQLC là 20.000 quân nhân. Các đơn vị trực thuộc của TQLC được ghi trong Phụ đề ở cuối Phần 1.TQLC là  một (1)  trong hai (2) sư đoàn có quân số cao nhất trong tổng số các đại đơn vị thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (Sư Đoàn c̣n lại là Sư Đoàn Nhẩy Dù).

Tháng 3 năm 1975, Sư Đoàn TQLC  nhận lệnh bỏ tuyến pḥng ngự phía nam sông Thạch Hăn rút về pḥng ngự Đà Nẵng, nhưng do mệnh lệnh lung tung và phối hợp không đồng nhất nên Lữ Đoàn 147 gồm 1 Chi Đoàn Kỵ Binh, các Tiểu Đoàn 3, 4, 5, 7 và Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh đang chờ tại cửa Thuận An (Huế) để tàu Hải Quân vào đón với quân số hơn 4.000 quân bị cộng quân bao vây tấn công, chỉ có hơn 200 sĩ quan và binh sĩ được tàu Hải Quân vào đón, số c̣n lại chống cự cho đến khi hết đạn hoặc bỏ vũ khí và tan ră, phần c̣n lại của Lữ Đoàn bị bắt, Lữ Đoàn chính thức tan hàng tại đây.

Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến gồm các Tiểu Đoàn 2, 6, 9 và Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh đóng tại Đại Lộc, tiểu khu Quảng Nam được lệnh triệt thoái của Sư Đoàn khỏi băi biển Non Nước, Đà Nẵng ngày 29 tháng 3 năm 1975. Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Lữ Đoàn Trưởng  369 và Trung Tá  Đỗ Hữu Tùng Lữ Đoàn Phó mất tích hoàn toàn (đến nay vẫn chưa t́m thấy tin tức,được xem như đă tử trận) khi đang điều động các đơn vị chiến đấu. Lữ Đoàn tự tháo chạy và tan hàng.

Khác với số phận của 2 Lữ Đoàn trên, Lữ Đoàn 258 và Lữ Đoàn 468 đang đóng tại đèo Hải Vân may mắn được tàu Hải Quân vào đón nên c̣n nguyên vẹn quân số rút về Vũng Tàu.

Tài liệu [2]  cũng viết  tương tự như trên : Cuộc di tản chiến thuật khỏi Vùng 1 Chiến Thuật trong tháng 3/1975 đă gây tổn thất nặng nề về nhân mạng cũng như về trang bị cho nhiều đơn vị của Sư Đoàn TQLC.

 Phần lớn lực lượng của Lữ Đoàn 147 bị quân cộng quân  vây hăm và bắt làm tù b́nh dọc bờ biển gần cửa Thuận An, Huế.

Một số rất ít quân nhân của hai Lữ Đoàn 258 và 369 lên được tàu Hải Quân tại bải biển Non Nước, Đà Nẵng.

Chỉ có Lữ Đoàn 468 với các Tiểu Đoàn 8, 14, 16 lên tàu Hải Quân với toàn bộ quân số và trang bị tại làng Cùi, dưới chân đèo Hải Vân trong đêm 28 rạng 29 tháng 3. Các thành phần thuộc Bộ Tham Mưu SĐ, các đơn vị yểm trợ như các Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ, Công Binh, Quân Y, Truyền Tin v.v... cũng đă bị tổn thất rất nặng. Sau khi tạm dừng quân ở Cam Ranh, Sư Đoàn được lệnh tiếp tục di chuyển về tập trung tại Vũng Tàu để được tái trang bị quân dụng và vũ khí các loại.

Theo tài liệu [1] : Vào những ngày cuối tháng Tư, Lữ Đoàn 258 đặt dưới quyền điều động của Quân Đoàn 3, Lữ Đoàn 468 pḥng ngự ở Tổng kho Long B́nh, c̣n Lữ Đoàn 147 và 369 phải tái bổ sung tổn thất tại Vũng Tàu.

Theo tài liệu [2] : Ngày 09 tháng 4 năm 1975, Sư Đoàn TQLC được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu tăng phái hành quân cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3, nhiệm vụ pḥng thủ ṿng đai Đông Bắc Sài G̣n, khu vực Biên Ḥa và Long B́nh. Các Cọp Biển Việt Nam giữ vững pḥng tuyến cuối cùng này, và họ đă chỉ buông súng theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh, vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH vào sáng ngày 30 tháng 4, đánh dấu trang sử cuối cùng của Binh Chủng TQLC/VN sau hơn 20 năm chiến đấu bảo vệ nền Độc Lập, Tự Do và Lănh Thổ, Lănh Hải của Miền Nam Việt Nam.

Theo tài liệu [1] : Riêng Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên đang đóng tại Thủ Đức vẫn c̣n chống cự tới gần 17 giờ chiều ngày 30/4 1975 mới chịu đầu hàng. Họ chào cờ lần cuối và bàn giao vũ khí cho  cộng quân.

Danh sách các vị Sĩ Quan Ch́ Huy và Tham Mưu Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và các Lữ Đoàn và Tiểu Đoàn TQLC tháng 4/1975 được tóm tắc trong bảng dưới đây (trích từ tài liệu [7]). 

Cấp bậc -Họ và tên - Chức vụ - Chú thích

1-Thiếu tướng-Bùi Thế Lân-Vơ Khoa Thủ Đức K4-Tư Lệnh ;

2-Đại Tá-Nguyễn Thành Trí-Sĩ Quan Thủ Đức K5 -Tư Lệnh Phó ;

3-Đại Tá-Lê Đ́nh Quế-Vơ Khoa Thủ Đức K4 -Tham Mưu Trưởng ;

4-Đại Tá Nguyễn Thế Lương- Vơ Khoa Thủ Đức K4- Chỉ Huy Lữ đoàn 147- Trung Tá Nguyễn Đằng Tống Chỉ Huy Phó;

Tiểu đoàn trưởng : Thiếu Tá Dương Văn Hưng Tiểu đoàn 1- Thiếu Tá Đinh Long Thành Tiểu đoàn 4- Thiếu Tá Phạm Cang Tiểu đoàn 7 .

5-Đại Tá Nguyễn Năng Bảo- Vơ Bị Địa Phương Bắc Việt- Chỉ Huy Lữ đoàn 258 -Trung Tá

Đỗ Đ́nh Vượng-Vơ Khoa Thủ Đức K4p-Chỉ Huy Phó;

Tiểu đoàn trưởng : Thiếu Tá Trần Văn Hợp Tiểu đoàn 2- Thiếu Tá Phạm Văn Tiền Tiểu đoàn 5- Trung Tá Nguyễn Đăng Ḥa Tiểu đoàn 8 .

6-Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc- Vơ Bị Đà Lạt K16- Chỉ Huy Lữ đoàn 369-TrungTá Đỗ Hữu Tùng-Vơ Bị Đà Lạt K16-Chỉ Huy Phó;

Tiểu đoàn trưởng : Thiếu Tá Nguyễn Văn Sử Tiểu đoàn 3- TrungTá Lê Bá B́nh Tiểu đoàn 6- Thiếu Tá Lâm Tài Thạnh Tiểu đoàn 9 .

7-Đại Tá Ngô Văn Định-Vơ Khoa Thủ Đức K4p (Khóa 10B Trừ bị Đà Lạt) -Chỉ Huy Lữ đoàn 468;

Tiểu đoàn trưởng : Trung Tá Nguyễn Văn Cảnh Tiểu đoàn 14- Thiếu Tá Đinh Xuân Lăm Tiểu đoàn 16- Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn Tiểu đoàn 18 .

8-Trung Tá Đặng Bá Đạt-Vơ Khoa Thủ Đức K6 -Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh;

Tiểu đoàn trưởng : Thiếu Tá Nguyễn Hữu Lạc Tiểu đoàn 1- Thiếu Tá Vơ Đằng Phương Tiểu đoàn 2- Thiếu Tá Nguyễn Tấn Lộc Tiểu đoàn 3- Thiếu Tá  Hà Tiến Chương Tiểu đoàn 4 .

 

Xin ghi thêm vài hàng về Trung Tá Đặng Bá Đạt trích từ tài liệu Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975Trường Gia Long của cùng tác giả .

Đặng Bá Đạt  nghiệp khóa 6 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, ngành Pháo Binh,Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh  năm 1957-1958 tốt.

Năm 1963, Sĩ Quan Đạt  được thuyên chuyển về Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Sĩ Quan  Đạt  lúc c̣n là  Trung Úy đă từng chỉ huy pháo đội C , điểm hội tụ của hầu hết cao thủ Mũ Xanh, sau này  các sĩ quan  này đều giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng.

Và lúc c̣n  mang cấp  bực Đại Úy, Sĩ Quan  Đạt  là pháo thủ ưu ái của Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục chiến.

Năm 1970, Sĩ Quan Đạt là Thiếu tá, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Thủy Quân Lục Chiến.

Năm 1971, trận Hạ Lào gây tổn thất nặng cho cả 2 bên, điều đáng mừng là các sĩ quan dưới quyền Sĩ Quan  Đạt đều trở về lành lặn. Lần đó, Sĩ Quan Đạt được gắn huy chương “ Bảo quốc Huân Chương với nhành Dương liễu”.

Vào cuối tháng Ba, năm 1972,  Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến  với Trung Tá Nguyễn Năng Bảo, lữ đoàn trưởng 147   và Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh  của  Thiếu Tá  Đạt vào căn cứ Mai Lộc.

Rồi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, sau một năm chuẩn bị, mùa mưa vừa chấm dứt, quân cộng sản Bắc Việt tập trung trên một quân đoàn, hơn 30 ngàn quân gồm cả 5 trung đoàn pháo  binh và 5 trung đoàn chiến xa, vượt vĩ tuyến 17 tấn công vào Quảng Trị.

Quân Bắc Việt  đă mở một cuộc tấn công toàn diện vào Quảng Trị. Phía Bắc, các căn cứ tiền đồn Nam Khu Phi Quân sự đều bị pháo kích nặng. Phía Tây, vùng trách nhiệm của Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến cũng bị pháo kích, kể cả những tiền đồn và căn cứ Mai Lộc bản doanh của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn.

Trung Đoàn 56 Bộ Binh ở căn cứ Carroll đă hàng địch, căn cứ Mai Lộc bị áp lực nặng nề, một Tiểu Đoàn 7 tăng cường làm sao chặn được cả sư đoàn Cộng quân?

Ngày 3 tháng 4 năm 1972, Lữ Đoàn 147  triệt thoái khỏi căn cứ Mai Lộc. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn không liên lạc trực tiếp được với Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh. V́ phải băng rừng vượt suối để về Ái Tử, Tiểu Đoàn2 Pháo Binh đă phải ra lệnh phá hủy một số khẩu pháo và xe pháo để chiến cụ không rơi vào tay địch.

Sau đó, Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh và Lữ Đoàn 147 gồm Tiểu Đoàn 4 và Tiểu Đoàn 8   về Huế dưỡng quân và tái trang bị và bổ sung quân số.

Nghĩ dưỡng quân chưa được 2 tuần,ngày 22 tháng Tư, Lữ Đoàn 147 cùng các Tiểu Đoàn 4 và  8 đă được bổ sung và tái trang bị sẽ ra Ái Tử thay thế Lữ Đoàn 258. Thiếu tá Đạt , mặc dầu đang nghỉ dưỡng quân, t́nh nguyện đi  theo Lữ Đoàn 147 với Trung Tá Nguyễn Năng Bảo v́  Tiểu đoàn 2 Pháo binh đă được  tái trang bị đầy đủ khi nhận 18 khẩu 105 từ Okinawa chở đến Phú Bài  và xe pháo đầy đủ.

Đến lúc nghe tin Quân ta đă cắm cờ trên Cổ Thành Quảng Trị, Sĩ Quan Đạt được đặc cách thăng cấp Trung Tá tại mặt trận .

Năm 1974, Trung Tá Đặng Bá Đạt được đề cử giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Nhưng thời thế dâu bể khó lường ! T́nh h́nh chính trị thế giới xoay chiều, Miền Nam tự do không c̣n nhận được hỗ trợ từ Đồng Minh nên đành thất thủ.

Một tháng trước ngày mất nước, vào tháng 3 năm 1975,  Trung Tá Đạt đă ra lệnh  hủy chiến cụ của  3 Tiểu Đoàn Pháo binh Thủy Quân Lục Chiến ở vùng 1 chiến thuật.

Sau ngày mất nước tan hàng 30 tháng 4 năm 1975, Trung Tá Đặng Bá Đạt  bị tù cải tạo cộng sản.

Đến năm 1991, Trung Tá Đặng Bá Đạt  cùng gia đ́nh đến Mỹ, đất nước của Tự Do .

 

Theo tài liệu [1] : Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến là đơn vị Tổng Trừ Bị, cực kỳ lưu động và được coi là thiện chiến nhất trong quân đội Việt Nam Cộng Ḥa. Sư Đoàn được thành lập theo đà phát triển của chiến tranh, đồng thời chia sẻ gánh nặng với các đơn vị bạn, Sư đoàn được đánh giá là  một  trong những đơn vị chiến đấu tốt nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, lời nhận xét này được đưa ra từ phía Đồng Minh, đặc biệt là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tất cả các quân nhân trong Sư Đoàn, từ sĩ quan cho đến binh sĩ đều là t́nh nguyện. Sư đoàn đă lập được rất nhiều thành tích, mặt trận nào cũng tham dự, từ rừng rậm hay núi non hiểm trở đến duyên hải và đồng bằng śnh lầy. Với những thành tích đạt được, Quân kỳ Sư đoàn được tặng thưởng dây biểu chương mầu Tam Hợp.

Trung Tướng Lê Nguyên Khang, vị Tư lệnh Sư Đoàn đầu tiên cùng với Đại Tá Nguyễn Thành Yên Tư Lệnh phó. Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, vị Tư Lệnh Sư Đoàn và Đại Tá  Nguyễn Thành Trí Tư Lệnh Phó cuối cùng từ năm 1972 đến năm 1975. Bên cạnh đó c̣n có các vị chỉ huy Chiến Đ̣an, Lữ Đoàn như các Đại Tá Tôn Thất Soạn, Hoàng Tích Thông, Phạm văn Chung, Ngô Văn Định, Nguyễn Năng Bảo, Nguyễn Thế Lương... cũng đă góp phần đáng kể vào sự phát triển của Sư Đoàn TQLCVN.

                                

Trung Tướng Lê Nguyên Khang             Thiếu Tướng Bùi Thế Lân

 H́nh trích từ tài liệu [3]                                 H́nh trích từ tài liệu [3]   

Danh sách các vị Sĩ Quan Tư Lệnh binh chủng TQLC  (Từ năm 1954-1962, được gọi là Chỉ Huy Trưởng ) được tóm tắc trong bảng dưới đây (trích từ tài liệu [7] ). 

Họ và tên - Cấp bậc -Tại chức - Chú thích

1-Lê Quang Trọng - Vơ Bị Huế K2 -Trung Tá-10/1954-06/1956 -Thủy Quân Lục Chiến khi mới thành lập (1954) danh xưng là: Bộ Binh Hải Quân.

2-Phạm Văn Liễu-Vơ  Bị Lục Quân Chapa, Yên Bái-Vơ Bị Đà Lạt K5 -Thiếu Tá-06/1956-08/1956- Tháng 4 năm 1956, Bộ Binh Hải Quân đổi tên thành Thủy Quân Lục Chiến.

3-Bùi Phó Chí-Vơ Bị Tông Sơn Tây -Đại Úy-08/1956-10/1956- Giải ngũ ở cấp Đại Úy. Là nhạc phụ của Trung Tướng Phan Trọng Chinh .

4-Lê Nhữ Hùng-Vơ Bị Huế K1 -Thiếu Tá-10/1955-04/1960-Năm 1957, đổi tên thành Liên đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

5-Lê Nguyên Khang-Vơ Khoa Nam Định -Thiếu Tá,Trung Tá (1/1962)-04/1960-11/1963-Đầu năm 1962, Liên Đoàn TQLC đổi tên thành Lữ Đoàn. Thiếu tá Khang trở thành Tư Lệnh lần thứ 1 .

6-Nguyễn Bá Liên-Vơ Khoa Thủ Đức K3p (Trừ bị Đà Lạt K9B) -TrungTá-11/1963-02/1964-Sau cùng là Đại Tá Phụ Tá Tư Lệnh Quân đoàn II kiêm Tư Lệnh Biệt Khu 24 (Kontum-Pleiku). Năm 1969 tử trận được truy thăng Chuẩn Tướng .

7-Lê Nguyên Khang-Đại Tá,Chuẩn Tướng (8/1964),Thiếu Tướng (10/1964),Trung Tướng (11/1966)-02/1964-05/1972-Tư Lệnh lần thứ 2. Sau cùng là Trung Tướng Phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng đặc trách Hành quân .

8-Bùi Thế Lân-Đại Tá,Chuẩn Tướng (6/1972),Thiếu Tướng (1/4/1975)-05/1972-04/1975-Tư Lệnh sau cùng .

   

Danh sách các vị Sĩ Quan cấp Tướng  xuất thân từ binh chủng TQLC được tóm tắc trong bảng dưới đây (trích từ tài liệu [7]). 

 Họ và tên - Cấp bậc -Thời gian phục vụ - Chú thích

1-Lê Nguyên Khang-Trung Tướng-1952-1972;

Thiểu Úư, Trung Úy: Lực lượng Bộ  Binh Hải Quân (1952-1955);

 Đại úy, Thiếu Tá: Tiểu Đoàn Trưởng TQLC (1955-1960);

Thiếu Tá, Trung Tá, Đại Tá: Liên Đoàn Trưởng TQLC (1960-1964);

Chuẩn Tướng: Tư Lệnh Lữ Đoàn TQLC (1964).

Thiếu Tướng, Trung Tướng: Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (1964-1972) .

2-Bùi Thế Lân-Thiếu Tướng-1954-1975 ;

Thiếu Úy, Trung Úy, Đại Úy: Đại  Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng TQLC (1954-1964); Thiếu Tá, Trung Tá, Đại Tá: Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn TQLC (1964-1972);

Chuẩn Tướng, Thiếu Tướng: Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (1972-1975) .

3-Nguyễn Bá Liên-Chuẩn Tướng (Truy thăng)-1956-1964 ;

Năm 1956 đang là sĩ quan cơ hữu ở Quân trường Đồng Đế, t́nh nguyện sang binh chủng TQLC.

Thiếu Úy, Trung Úy : Đại Đội Trưởng TQLC (1956-1958);

 Đại Úy: Trưởng Pḥng 1 Tiểu Đoàn, Tiểu đoàn Trưởng, Liên Đoàn Phó TQLC (1958-1963);

Thiếu Tá, Trung Tá: Liên Đoàn Phó, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (1963-1964). Sau chuyển sang Bộ Binh .

4-Trần Văn Nhựt -Vơ Bị Đà Lạt K10 - Chuẩn Tướng-1954-1964;

Thiếu Úy: Đại Đội Trưởng;

Trung Úy: Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 1/TQLC (1955-1956) (1959-1960);

Đại Úy: Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/TQLC (1960-1961) (1962-1963);

Thiếu Tá: Tư Lệnh Phó kiêm Tham Mưu Trưởng Liên Đoàn TQLC (1963-1964) .

 

Các Lữ Đoàn Trưởng  - Đại Tá Ngô Văn Định, Phạm Văn Chung, Nguyễn Thế Lương và Nguyễn Năng Bảo – H́nh trích từ  tài liệu [3]

Danh sách các vị Sĩ Quan Lữ Đoàn Trưởng  TQLC được tóm tắc trong bảng dưới đây (trích từ tài liệu [7]). 

Đơn vị - Họ và tên - Cấp bậc -Tại chức - Chú thích

1.     Lữ đoàn 147 : Năm 1965, được thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn A. Năm 1968, Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được nâng lên cấp Sư Đoàn. Chiến đoàn được đổi tên thành Lữ đoàn 147.

1-Hoàng Tích Thông-Vơ Khoa Thủ Đức K4 -Trung Tá-1965-1971-Sau cùng là Đại Tá;

2-Nguyễn Năng Bảo-Vơ Bị Địa Phương Bắc Việt - Trung Tá -1971-1974-Sau cùng là Đại Tá ;

3-Nguyễn Thế Lương-Vơ Khoa Thủ Đức K4 -Đại Tá-1974-1975;

4-Phạm Cang-Vơ Bị Đà Lạt K20 -Thiếu Tá-1/1975-4/1975-Xử lư thường vụ chức vụ Lữ đoàn trưởng .

2.     Lữ đoàn 258 : Năm 1965 được thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn B. Năm 1968 được đổi tên thành Lữ đoàn 258.

1-Tôn Thất Soạn-Vơ Khoa Thủ Đức K4 -Trung Tá-1965-1970-Sau cùng là Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Hậu Nghĩa;

2-Nguyễn Thành Trí-Sĩ Quan Thủ Đức K5 – Trung  Tá- 1970-1971-Sau cùng là Đại Tá Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến;

3-Ngô Văn Định-Trung  Tá-1971-1974;

4-Nguyễn Năng Bảo-Đại tá-1974-1975 .

3.     Lữ đoàn 369 : Được thành lập năm 1969

1-Ngô Văn Định-Trung Tá-1969-1970 ;

2-Phạm Văn Chung-Vơ Bị Đà Lạt K10B- Trung Tá -1970-1972-Sau chuyển đi làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 3 Bộ Binh và sau cùng là Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Nam;

3-Nguyễn Thế Lương- Trung Tá -1972-1974 ;

4-Nguyễn Xuân Phúc- Trung Tá -1974-1975 .

4.     Lữ đoàn 468 : -Thành lập vào thượng tuần tháng 4/1975

1-Ngô Văn Định-Đại Tá .

 

Theo tài liệu [4] : Từ năm 1960 khi cộng sản Bắc Việt bắt đầu tiến hành chiến tranh ở miền Nam, danh tiếng binh chủng TQLC bắt đầu vang rộng khắp nơi qua các trận đánh nổi tiếng như Đầm Dơi, Đổ Xá, Ba Gia, B́nh Giả, Đức Cơ, Phụng Dư, Rạch Ruộng cũng như các chiến dịch lớn như Sóng T́nh Thương, Tết Mậu Thân ở thủ đô Sàig̣n-Chợ Lớn và Cố Đô Huế, Cửu Long sang Cao Miên, Lam Sơn 719 sang Hạ Lào.

Được sự trợ giúp tận tâm của các cố vấn TQLC Hoa Kỳ tận tâm và kinh nghiệm, đồng kham cộng khổ ở chiến trường, binh chủng TQLC Việt Nam trưởng thành nhanh chóng qua những tháng năm khói lửa trở thành một đại đơn vị   lừng danh chiến trận với tổ chức chặc chẻ, huấn luyện thuần thục, chịu đựng dẻo dai, trang bị vũ khí tối tân , cán bộ chỉ huy tài ba, tinh thần chiến đấu can đảm với quân số đầy đủ và mạnh mẽ nhất trong quân đội Việt Nam Cộng Ḥa.

Tuy nhiên đại đơn vị này cũng là nạn nhân không may của cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Do Tướng Lê Nguyên Khang là bạn thân thiết của tướng Kỳ nên sau khi Tướng Thiệu nắm được quyền lực, Sư Đoàn TQLC đă không được sử dụng đúng chỗ và quan tâm chu đáo như Sư Đoàn Nhảy Dù do luôn là mối lo ngại về đảo chính của vị lănh đạo quốc gia đa nghi này. Các cấp chỉ huy tài ba cấp lữ đoàn của binh chủng như Nguyễn Thành Yên, Tôn Thất Soạn, Hoàng Tích Thông, Nguyễn Thành Trí, Phạm Văn Chung, Ngô Văn Định không có cơ hội lên Tướng cho dù tạo nhiều chiến tích lừng danh.

                               

 

Đại tá Nguyễn Thành Yên             Đại tá Tôn thất Soạn              Đại tá Hoàng Tích Thông

 

                                         

Đại tá Nguyễn Thành Trí            Đại tá Phạm Văn Chung Đại tá Ngô Văn Định

 

 

Phụ đề : Các đơn vị trực thuộc  binh chủng TQLC

Bảng dưới đây  trích từ tài liệu [7] tóm tắc các đơn vị trực thuộc binh chủng TQLC

Đơn vị

1-Lữ đoàn 147

-Tiểu đoàn 1 (Quái Điểu);

 -Tiểu đoàn 4 (Ḱnh Ngư);

 -Tiểu đoàn 7 (Hùm Xám).

 2-Lữ đoàn 258

-Tiểu đoàn 2 (Trâu Điên);

-Tiểu đoàn 5 (Hắc Long);

-Tiểu đoàn 8 (Ó Biển).

 3-Lữ đoàn 369

-Tiểu đoàn 3 (Sói Biển);

-Tiểu đoàn 6 (Thần Ưng);

 -Tiểu đoàn 9 (Mănh Hổ).

 4-Lữ đoàn 468 (Tân lập)

 -Tiểu đoàn 14;

-Tiểu đoàn 16;

 -Tiểu đoàn 18.

5-Đại đội Viễn Thám

-Đại đội 147;

-Đại đội 258;

-Đại đội 369;

-Đại đội 468;

(Phối thuộc 4 Lữ đoàn).

6-Bộ chỉ huy Tổng Hành Dinh

7-Đại đội Trinh Sát-Dưới quyền điều động trực tiếp của Tư Lệnh Sư Đoàn

8-Đại đội Quân Cảnh 202

9-Biệt đội Tác chiến Điện Tử

10-Tiểu đoàn Yểm trợ

-Phân đội 147;

-Phân đội 258;

-Phân đội 369;

-Phân đội 468;

11-Đại đội diệt tăng

12-Tiểu đoàn Quân Y

13-Tiểu đoàn Truyền Tin

14-Tiểu đoàn Công Binh

15-Trung tâm huấn luyện-Căn cứ Sóng Thần

16-Tiểu đoàn Huấn luyện-Căn cứ Sóng Thần

17-Khối Bổ sung

18-Bệnh viện Lê Hữu Sanh

19-Bộ chỉ huy Pháo Binh

-Tiểu đoàn 1 (Lôi Hỏa);

-Tiểu đoàn 2 (Thần Tiễn);

-Tiểu đoàn 3 (Nỏ Thần);

-Tiểu đoàn 4 (Tân lập);

(Phối thuộc 4 Lữ đoàn) .

 

Sau đây là vài chi tiết về vài đơn vị yểm trợ của Sư Đoàn TQLC , theo tài liệu  [2] :

1- Pháo Binh TQLC : Một đơn vị không thể thiếu vắng trong tất cả các cuộc hành quân của Binh Chủng.

 Khởi thủy, cùng thời gian thành lập Tiểu Đoàn 2  cuối năm 1955, Đại Đội Trọng Pháo 106 ly được thành lập, đồn trú tại Mỹ Tho, sau dời về đảo Bnh́ Ba trong Vịnh Cam Ranh. Nhưng đến giữa năm 1961, đon vị này bị giải thể, được thay thế bằng Pháo Đội Đại Bác 75 ly Sơn Pháo.

Đầu năm 1962, Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh TQLC được h́nh thành với 2 Pháo Đội 75 ly và 1 Pháo Đội 105 ly ṇng ngắn do Đại Úy Nguyễn Văn Trước làm Tiểu Đoàn Trưởng  và Đại Úy Cao Văn Thinh làm Tiểu Đoàn Trưởng Phó. Các Trung Úy Đoàn Trọng Cảo coi Pháo Đội A/75 ly, Trung Úy  Nguyễn Hửu Hạnh Pháo Đội B/75 ly, Trung Úy  Nguyễn Hồ Qú Pháo Đội C/105 ly.

Huy hiệu Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Lôi Hỏa TQLC- H́nh trích từ tài liệu [5] 

Đầu năm 1969, Tiểu Đoàn Pháo Binh thứ 2 được thành lập cùng với Ban Chỉ Huy Sư Đoàn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Trước lên làm Chỉ Huy Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh là Đại Úy Đoàn Trọng Cảo, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2 là Đại Úy Nguyễn Hồ Quỳ.

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Thần Tiển TQLC- H́nh trích từ tài liệu [5] 

Sau đó vào năm 1970, Tiểu Đoàn 3  Pháo Binh được thành lập với Đại Úy Trần Thiện Hiệu làm Tiểu Đoàn Trưởng .

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nỏ Thần TQLC- H́nh trích từ tài liệu [5] 

Năm 1974, Trung Tá Đặng Bá Đạt được đề cử giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.  

Đầu năm 1975, cùng với sự thành lập Lữ Đoàn 468, Pháo Đội P/105 ly (Tiểu đoàn 4 Pháo Binh) được thành lập với Đại Úy Nguyễn Văn Vinh làm Pháo Đội Trưởng. Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh sau cùng là Trung Tá Nguyễn Trọng Đạt và Tiểu Đoàn  Tiểu Đoàn  3 Pháo Binh  là Thiếu  Tá Nguyễn Tấn Lộc .

(Xem thêm chi tiết về Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến trong bài Trường Pháo Binh cùa cùng tác giả) .

 

2-Tiểu Đoàn Tổng Hành Dinh được thành lập đầu năm 1969, hậu thân của Đại Đội Chỉ  Huy và Công Vụ Liên Đoàn năm 1956, đồn trú tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, số 15 Lê Thánh Tôn Sàig̣n. Nhiệm vụ chính là bảo vệ an ninh cho Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, quản trị quân số, quân lương, quân thực, tiếp liệu cho quân số cơ hữu Bộ Tư Lệnh và cho Ban Chỉ Huy  Pháo Binh Sư Đoàn , các Ban Chỉ Huy  Lữ Đoàn. Các vị Tiểu Đoàn Trưởng từ ngày thành lập gồm: Thiếu Tá Bùi Văn Phẩm (1969), Thiếu Tá  Nguyễn Đức Ân (1970),  Thiếu Tá  Vơ Kỉnh (1971), Trung Tá Phạm Nhă (1972), Trung Tá Nguyễn Phán (1974) .

 

3- Tiểu Đoàn Công Vụ là hậu thân của Đại Đội Tiếp Liệu, được thành lập vào ngày thành lập Binh chủng 01 tháng 10 năm 1968. Năm 1972, Tiểu Đoàn Công Vụ được cải danh thành Tiểu Đoàn  Yểm Trợ Thủy Bộ. Vị Tiểu Đoàn Trưởng tiên khởi là Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc (4/1968), kế tiếp là Trung Tá Ngô Văn Định (5/1969), ThiếuTá Vương Văn Tài (1/1970), Thiếu Tá Phạm Văn Sắt (1972), Thiếu Tá Ngô Nhật Thăng (1974).

 

4- Công Binh TQLC đóng góp rất nhiều trong việc phát triển binh chủng  TQLC qua hai nhiệm vụ chính là “Chiến Đấu và Kiến tạo”. Công Binh TQLC khởi đầu bằng Đại Đội Công Binh do Trung Úy Bùi Văn Phẩm thành lập năm 1962. Tới năm 1968, Công Binh phát triển thành Liên Đại Đội do Đại Úy Cao Văn Tâm làm Liên Đội Trưởng. Theo đà phát triển của Binh chủng, tháng 4 năm 1971, Tiểu Đoàn Công Binh TQLC được thành h́nh. Cuối năm 1971, Thiếu Tá Đỗ Văn Tỵ từ Cục Công Binh thuyên chuyển về binh chủng TQLC, được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Ngoài những công việc nguy hiểm ngoài hành quân như thiết lập những băi ḿn chống chiến xa tại căn cứ Phượng Hoàng, đặt ḿn phá cầu Đông Hà, Mỹ Chánh, Tiểu Đoàn Công Binh c̣n thiết lập và kiến tạo nhiều công tŕnh lớn trong Binh Chủng như góp phầnBây dựng Bịnh Viện Lê Hửu Sanh, biến khu căn cứ Dĩ An của Sư Đoàn  Lục Quân Hoa Kỳ giao lại thành Căn Cứ Sóng Thần với những doanh trại của các Tiểu Đoàn trong Sư Đoàn và c̣n nhiều công tŕnh khác. Công Binh TQLC có mặt hầu hết trên những vùng tham chiến của binh chủng .

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 2 Yểm Trợ Công Binh  TQLC- H́nh trích từ tài liệu [5] 

5- Bệnh Viện Lê Hửu Sanh : Bệnh xá TQLC cũng được nâng cấp. Từ Bịnh xá Cửu Long đặt tại trại Cửu Long, Thị Nghè, được đổi thành Bệnh Viện Lê Hửu Sanh từ ngày 01 tháng 10 năm 1968 lúc thành lập Tiểu Đoàn Quân Y TQLC và được dời về Rừng Cấm vào năm 1969. Vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên và duy nhất là Y Sỉ Trung Tá Nguyễn Văn Thế. Các Y Sỉ Trưởng bệnh viện lần lượt là Y Sỉ Thiếu  Tá Trần Mạnh Tường, Trương Minh Cường và Trần Công Hiệp. Tuy nhiên, khi thành lập Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 2 TQLC năm 1955, đă có 2 vị bác sĩ tốt nghiệp Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội t́nh nguyện về TQLC, đó là các Y Sĩ Trung Úy Nguyễn Văn Hoàng và Nguyễn Văn Chất, là hai anh em ruột. Sau này, hai ông về lại Quân Y. Trung Tá Hoàng làm Trưởng Pḥng Điện tuyến Tổng Y Viện Cộng Ḥa, c̣n Trung Tá Chất th́ làm Trưởng Pḥng bệnh ngoài da TYVCH.Sau 1975, ông Hoàng ở Canada, c̣n ông Chất ở Florida-Hoa Kỳ.

Hơn nửa ,xin ghi thêm  vài chi tiết về Bệnh Viện Lê Hửu Sanh trích từ tài liệu [9] :  

‘’Sau ngày thành lập Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến vào ngày 1 tháng 10 năm 1968, năm Mậu Thân, chiến trường Việt Nam lắng dịu phần nào. Nhờ vậy, chúng tôi (tác giả tài liệu [9] )  mới có thời giờ để ráo riết dời Đơn vị Quân Y đến doanh trại mới tại Rừng Cấm, Thủ Đức gồm khu vực Tiểu đoàn và Bệnh viện Lê Hữu Sanh nằm trong một khoảng đất rộng 18 mẫu tây.

 Nhắc đến Bệnh viện Lê Hữu Sanh như nhớ lại một dĩ văng xa xôi ngày nào.
Anh Lê Hữu Sanh, cũng như anh Trần Ngọc Minh đều là bạn học cùng Trường Quân Y, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Cả hai anh là Y Sĩ Thủy Quân Lục Chiến và cùng tử trận lúc phục vụ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến tại chiến trường Miền Trung.

Anh Minh và tôi cùng tŕnh diện Thủy Quân Lục Chiến vào lúc Lữ đoàn hành quân tại B́nh Giả. Anh Minh được bổ nhậm Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến và tên anh sau này được dính liền với Quân Y viện sau chợ Trần Quốc Toản.

Anh Sanh ra trường khóa 12 Quân Y Hiện Dịch, sau tôi một khóa. Anh đă lựa Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Anh Sanh, không lâu, tử trận lúc làm Y Sĩ trưởng Tiểu đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến.

Với tư cách Y Sĩ Trưởng Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, tôi đă đề nghị đặt tên Lê Hữu Sanh cho Bệnh viện mới Thủy Quân Lục Chiến để tưởng nhớ một “Anh Hùng”, một Y Sĩ Mũ Xanh và một người Bạn mà tên đă măi măi tồn tại trong Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và trong tôi.

Tôi và Bác sĩ Wenger, Y Sĩ Trung Tá Hải quân Mỹ thời bấy giờ đă đi đến từng Evacuation Hospital Mỹ tại Căn cứ Long B́nh cũng như các căn cứ Mỹ tại Miền Nam Việt Nam để lấy kiểu mẫu và sáng kiến cấu tạo một sơ đồ cho Bệnh viện Thủy Quân Lục Chiến mới.

Bác sĩ Wenger là Cố vấn Quân Y Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam trong năm 1968 (sau nầy ông làm Y Sĩ Trưởng Hạm Đội Mỹ Thái B́nh Dương.

Bệnh viện Lê Hữu Sanh và Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến (căn cứ?) do một hăng thầu Mỹ R.M.K. và Công Binh Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam xây cất trong một khoảng đất diện tích 18 mẫu tây  đúng theo tiêu chuẩn quốc tế.

Bệnh viện Lê Hữu Sanh được xây theo lối chữ thập Evacuation Hospital của Mỹ.

 Bệnh viện có 250 giường với đầy đủ tiện nghi, đặc biệt là Pḥng Nha Khoa và Khu Giải Phẫu, tối tân và đầy đủ dụng cụ. Trong Bệnh viện có Bảo Sanh Viện và khu nhi đồng để phục vụ cho gia đ́nh Thủy Quân Lục Chiến. Bảo Sanh Viện Thủy Quân Lục Chiến đă đào tạo trên 100 Nữ Hộ Sinh từ các con em trong Gia đ́nh Thủy Quân Lục Chiến.
Bệnh viện mới, tinh thần mới. Anh em Quân Y từ Y sĩ đến Y tá, Y công đều nỗ lực làm đẹp cho Bệnh viện... với những con đường tráng nhựa dọc theo những hàng cây liễu, cây khuynh diệp phảng phất mùi thơm nhè nhẹ với những cơn gió mát vào buổi chiều; Với những hành lang đầy các tượng voi, tượng sành, chậu hoa; với các khu vườn nhỏ và băng đá lạnh.

Đặc biệt nhất nơi vườn hoa Bệnh viện, có khu Công Giáo với tượng Đức Mẹ, khu Phật Giáo với tượng Phật Bà Quan Âm... thật đầy ư nghĩa, v́ những ai về đến Bệnh viện Lê Hữu Sanh đều thấy có ḷng tin tưởng nơi Thượng Đế như được tái “Sanh”, sau nhiều cuộc hành quân nguy hiểm tại các mặt trận kề bên tử thần.

Các Y Sĩ Trưởng bệnh viện gốm có :

Y Sĩ Thiếu Tá Trần Mạnh Tường từ năm 1968 đến 1970;

Y Sĩ Thiếu Tá Trương Minh Cường từ năm 1970 đến 1972;

Y Sĩ Thiếu Tá Trần Công Hiệp từ năm 1972 đến 1975 .

Có lẽ các anh thương binh không quên mặt các Bác sĩ Tường, Cường, Hiệp, Hải... những bàn tay giải phẫu của Bệnh viện, cũng như các Bác sĩ Mỹ, Hạnh, Dơng, Nam, Tâm... và nhiều Y sĩ Thủy Quân Lục Chiến khác lúc nào cũng có mặt trong các Khu Thương Bịnh binh ngày cũng như đêm, thành những bóng ma áo trắng của Bệnh viện !’’.

Xin ghi thêm kư ức viết bởi một cựu TQLC đă được điều trị tại Bịnh viện Lê Hữu Sanh

(trích từ tài liệu [10]) :

Bịnh viện Lê Hữu Sanh nằm cách phi trường Tân Sơn Nhất chừng 15 cây số, tọa lạc  trong trung tâm căn cứ Sóng Thần, chung quanh bao bọc bởi sân băi của Trung Tâm Huấn Luyện TQLC, một bên là băi dùng cho tập cơ bản thao diễn (Lệ Đá), một bên là băi chiến thuật có tên ‘làng vc.’ với những bụi tầm vông xanh mướt.

Từ đường chính vào cổng cũng cỡ 100 mét hơn, có bến xe Lam ba bánh chuyên chở khách thăm viếng và lính ra Thủ Đức. Qua cổng, một sân rộng với băi cỏ xanh mượt, một bồn nước phun xây tṛn cao chừng nửa mét, trên bức tường thấp bao quanh đó, đặt bốn tượng trẻ nhỏ khỏa thân với thế đứng ưỡn bộ phận sinh dục nhỏ xíu, dùng tay hướng dẫn chĩa khẩu p 38 mini vào hồ đứng đái rất ngộ nghĩnh và vui mắt.

Một dẫy nhà ngang, loại nhà khung sắt tiền chế thường thấy trong các doanh trại quân đội, được dùng làm văn pḥng, sau dẫy nhà đó là khu vực các trại bệnh, bên phải là pḥng khám đa khoa, bên trái là pḥng dược, bịnh viện do quân đội Mỹ xây dựng, bốn dẫy nhà h́nh chữ thập, chia thành hai bên trái phải, giữa là một khu đất rộng, có những mương thoát nước xây xi măng và khoảng trống c̣n lại trồng cỏ, giữa khu băi cỏ xanh tươi đó là hai ngôi nhà nghỉ h́nh lục giác mà các đường nối dẫn vào cũng chéo chữ X luôn để cho thương bệnh binh đi dạo và ngồi nghỉ.

 Mỗi dẫy nhà bịnh là một h́nh chữ thập đều nhau, có hai đầu nối gần nhau như hai dấu nhân. Bịnh viện rất khang trang và sạch sẽ mang tầm vóc quốc tế. Nối hai dẫy nhà trên lại là một hội trường cũng bằng loại nhà tiền chế, nhưng khi thương binh nhiều, nó cũng được biến thành Ngoại thương 5, Ngoại thương 6, nơi điều trị cho những thương binh nhẹ và những thương binh chờ được trả lại đơn vị chiến đấu cũ.

Phía bên phải tính từ cổng chính đi vào, gần góc có một ngôi nhà kiểu di động của Mỹ được tháo bánh xe và kê cao làm câu lạc bộ, phía trái sau hai trại bịnh là hàng rào ngăn cách với hậu cứ Tiểu đoàn Quân Y TQLC. Cũng có một cổng sau để ra lối các băi tập chiến thuật và làng VC.

Ở Ngoại thương 1 lúc tôi (tác giả tài liệu [9] ) chuyển về, h́nh như lúc đó cũng có một niên trưởng của Tiểu Đoàn 3 cũng c̣n đang nằm điều trị. Có lẽ trong đời tôi, đây là lần đầu tiên phải nằm bịnh viện, thấy mọi thứ ngăn nắp và sạch sẽ, sàn nhà sạch v́ được lau rất kỹ bởi một số chiến hữu gần b́nh phục hoàn toàn được giữ lại phục vụ thương bịnh binh, giường nệm, máy lạnh (Ngoại thương 1 mới có) chạy vo vo mát rượi dưới cái nóng vùng nhiệt đới, pḥng tắm toilet rất hiện đại và vệ sinh, chúng tôi được chăm sóc rất kỹ, từ ăn uống đến khám chữa vết thương, cùng sự thăm hỏi thường xuyên của ban giám đốc bịnh viện.

Chiều xuống, một số thương binh c̣n đi lại được, đẩy xe lăn cho bạn ḿnh đi lang thang khỏi trại bệnh ra cổng, ra sân, ra nhà nghỉ ngồi tán dóc, một số bạn mất cả hai chân, nay vết thương đă lành, chờ ra hội đồng y khoa giám định thương tật, ngồi trên xe lăn biểu diễn chạy xe lăn hai bánh sau, hứng chí th́ rủ nhau đua xe lăn chơi, ai cũng c̣n trẻ măng, dù thương tật nhưng cũng vẫn vui đùa như những người b́nh thường. Nhiều cuộc đua mà các tay đua ngă chổng kềnh, mặt nhăn nhó đợi bạn đến nâng dậy rồi cười thoải mái. Hơn sáu tháng ở chiến trường, dung nhan tôi có đổi khác, nằm hầm canh địch, ăn rồi ngủ, béo trắng ra, tóc râu dài ra trông tôi chắc cũng mắc cười lắm. Nhớ lại buổi tối đầu tiên trong bịnh viện, nằm trên giường, nhờ bạn cạnh bên mua dùm ổ bánh ḿ thịt, thứ này đă sáu tháng chưa ăn nên thèm. Tôi nằm gặm bánh ḿ và nhai, mấy người nằm bên ph́ cười, tôi quay qua hỏi th́ ai cũng nói khi tôi nhai, hai bên ria mép nó vễnh lên vểnh xuống trông tức cười không chịu được.

Sau một đêm trong chăn ấm, nệm êm, một đêm xa rời hẳn vùng giao tranh, một vài người bạn trong đơn vị nghe tin tôi về đă ghé thăm, c̣n đang nằm trên giường, người Hạ sĩ quan y tá trưởng cho người đến kêu tôi dậy sửa soạn đi hớt tóc, cạo mặt để đón các phái đoàn tới thăm. À th́ ra Tết đến! Xuân đă về trên quê hương chiến tranh, tôi đi hớt tóc, những sợi tóc dài rơi rụng và khuân mặt tôi trông mập hơn, tôi được giúp tắm rửa và gội đầu tóc, người này chỉ người kia cách bọc vết thương, để tắm mà bông băng không bị nước thấm vào, những cái túi nylon và những sợi nịt thun được giữ lại để dùng cho những lần tắm kế.

Cứ theo thú tự từ trên xuống, các phái đoàn lần lượt ghé thăm và cho quà thương bệnh binh, từ phái đoàn tổng thống phu nhân, thủ tướng phu nhân, đại tướng TTM trưởng phu nhân, quà của các đơn vị trưởng gửi tặng, các bao thư cũng nặng nhẹ tùy theo chức vụ của từng phái đoàn. Ngoài ra, chúng tôi c̣n được các trường học tại thủ đô ghé thăm với các nữ sinh tươi trẻ tha thướt trong những tà áo dài, nhí nhảnh đến thăm hỏi chuyện tṛ, những đoàn đến cắt tóc, gội đầu, nằm điều trị mà thấy các phái đoàn đến cũng đỡ buồn và ấm ḷng người thương binh chi lạ.

Giáp với ngày Tết, và khi bịnh viện đă hết lịch các phái đoàn xin đến thăm ủy lạo, bịnh viện cấp phép cho tất cả những thương bệnh binh nào không phải bó buộc ở lại điều trị, có thể về gia đ́nh để ăn Tết. Tuy gọi là ăn Tết ở bịnh viện, nhưng lúc đó bịnh viện vắng teo, chỉ c̣n những thương binh nặng, chung quanh giường bịnh của họ treo đầy các chai lọ dịch truyền, những máng đỡ chân, những qủa tạ kéo, đương nhiên không thể gỡ ra cho họ về được, th́ họ được gia đ́nh đến thăm, c̣n những thương binh như chúng tôi được cấp phép và thuốc uống trong suốt những ngày nghỉ về ăn Tết ở nhà, nhưng quân số thuộc bịnh viện, nên cũng phải kể là có một lần ăn Tết ở Bịnh viện Lê Hữu Sanh chứ?

 

Xin ghi thêm một đơn vị yểm trợ rất quan trọng và cần thiết của cùa Sư Đoàn TQLC trích từ tài liệu [9] :  

 

6- Tiểu Đoàn Quân Y Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn Quân Y TQLC- H́nh trích từ tài liệu [5] 

Trích từ tài liệu [9] :  

‘’Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam thành lập 1968 cùng với Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sau Tết Mậu Thân :
* Vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam kiêm nhiệm Y sĩ trưởng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, từ ngày thành lập 1968 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 là: Y sĩ Trung tá Nguyễn Văn Thế;
* Tiểu đoàn phó kiêm Y sĩ Phụ tá Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam từ 1968 đến 30/4/1975 là: Y sĩ Thiếu tá Trần Mạnh Tường.
 Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam được tuyên dương công trạng trước Quân Đội sau trận đánh Hạ Lào tháng 2/1971.
* Quân số : 1200
- Bác sĩ : 50 (từ cấp Trung đội Quân Y và Bệnh xá trở lên);
- Nha sĩ : 3;
- Dược sĩ : 8;
- Sĩ Quan Hành Chánh Quân Y : 16.
Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam biệt lập, không trực thuộc Binh chủng Hải Quân.
Các Sĩ quan từ Y sĩ, Nha sĩ, Dược sĩ, Sĩ quan Hành Chánh Quân Y đều do Cục Quân Y Quân Lực Việt Nam Công Ḥa bổ sung.
 Hạ Sĩ Quan và Binh sĩ Quân Y Thủy Quân Lục Chiến là cơ hữu của Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tiểu đoàn Quân Y tự tuyển mộ các binh sĩ Quân Y và đào tạo thành Y tá, chuyên viên, v.v...
Các thương binh từ các Đơn vị Thủy Quân Lục Chiến nhập viện Bệnh viện Lê Hữu Sanh đều được thuyên chuyển về Khối Thặng Số Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến
 Bệnh viện Lê Hữu Sanh: Vốn là Bệnh xá Cửu Long Thủy Quân Lục Chiến. Bệnh xá này được thành lập cùng với Đại đội Quân Y Thủy Quân Lục Chiến lúc Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam ra đời vào cuối thập niên 50.
Bệnh xá Cửu Long bắt đầu với 20 giường và sau đó tăng lên 50 giường cùng với sự tăng trưởng của Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
Trong năm 1968, trong thời gian Tết Mậu Thân giao tranh với việt cộng tại Thị Nghè, Hạnh Thông Tây, G̣ Vấp không di tản thương binh đến Tổng Y Viện Cộng Ḥa. Bệnh xá Cửu Long điều trị trên 250 thương binh, bước đầu trong việc trưởng thành của Bệnh viện Lê Hữu Sanh sau nầy.
Bệnh xá Cửu Long đặt tại Trại Cửu Long, Thị Nghè. Được đổi là Bệnh viện Lê Hữu Sanh từ ngày 1/10/1968, lúc thành lập Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến và cùng dời về Rừng Cấm vào năm 1969.
Cố Bác sĩ Lê Hữu Sanh, thuộc khóa 12 Quân Y hiện dịch, tử trận tại Miền Trung lúc phục vụ với tư cách là Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến.
Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến cùng với Bệnh viện Lê Hữu Sanh tọa lạc tại Rừng Cấm, Thủ Đức, trong Căn cứ Sóng Thần từ năm 1969.


Các Đại đội Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam:
- Đại đội trưởng các Đại đội Quân Y thuộc Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến đều kiêm nhiệm chức vụ Y sĩ trưởng Lữ đoàn.
- Đại đội Quân Y Lữ đoàn hoạt động theo các Lữ đoàn đóng quân, theo Bộ chỉ huy Lữ đoàn và thành lập một Bệnh xá hành quân 50 giường.
- Khối Thặng số Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến do Thiếu tá Tô Văn Cấp, Sĩ quan Hiện dịch Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, một cựu thương binh chỉ huy. Khối thặng số có từ 1000 đến 9000 Thương Bịnh binh nhất là sau chiến trường Hạ Lào và Quảng Trị.


Những thành phần chuyên môn của Tiểu đoàn Quân Y Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, gồm:
* Đại đội Thâu Lựa Thương Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến :
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 14 Thủy Quân Lục Chiến.
* Đại đội Thâu Lựa Thương Lữ đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến :
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 16 Thủy Quân Lục Chiến.
* Đại đội Thâu Lựa Thương Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến :
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 9 Thủy Quân Lục Chiến;
- Trung đội Quân Y Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến.
* Tiểu đội Quân Y Tiểu đoàn 1 Pháo binh Thủy Quân Lục Chiến .

* Tiểu đội Quân Y Tiểu đoàn 2 Pháo binh Thủy Quân Lục Chiến.
* Tiểu đội Quân Y Tiểu đoàn 3 Pháo binh Thủy Quân Lục Chiến.
* Bệnh viện Lê Hữu Sanh Thủy Quân Lục Chiến - 250 giường.
* Bảo Sanh Viện Thủy Quân Lục Chiến - 30 giường.
* Bệnh viện Thủy Quân Lục Chiến hành quân - 100 giường.
* Khối Thặng Số Thương Bịnh Binh Thủy Quân Lục Chiến.
* Bệnh xá Bộ Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến.
* Bệnh xá Trung Tâm Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến’’.

 

Phần 2 : Quân Trường Rừng Cấm

Theo tài liệu [11] : Trung Tâm Huấn Luyện Rừng Cấm tọa lạc trong quận Thủ Đức,tỉnh Gia Định ,  trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn , có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo căn bản Binh chủng (TQLC ?) cấp binh sĩ, đồng thời huấn luyện căn bản cho sĩ quan, hạ sĩ quan tốt nghiệp từ các trường Vơ Bị (Đà Lạt?) , Vơ Khoa (Thủ Đức ?), Đồng Đế được tuyển vào Binh chủng.

Nhưng theo tài liệu [3]  &  [7] : Trung Tâm Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến Rừng Cấm (sau thuộc Căn Cứ Sóng Thần) là một đơn vị trực thuộc binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến

Hơn nửa theo tài liệu [12] : Quân trường Rừng Cấm tọa lạc tại Rừng Cấm nằm trong Căn Cứ Sóng Thần phạm vi giữa Dĩ An và Thủ Đức Tam Hà ,tỉnh Gia Định.

Theo tài liệu [13] : Khu Rừng Cấm là một khu rừng cây chồi rậm rạp rộng khoảng ba cây số vuông, nằm phía Nam của lănh thổ quận Dĩ An tỉnh Biên Hoà, giáp ranh quận Thủ Đức phía Nam và quận Lái Thiếu phía Tây.

Sau Hiệp định Genève được kư kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, đất nước bị chia đôi từ vĩ tuyến 17. Bọn việt minh (Sic) tập kết ra miền Bắc cộng sản độc tài đảng trị và phía Nam vĩ tuyến là miền Nam tự do,nhân bản  nhưng bọn chúng c̣n để lại nông thôn một số  ít nằm vùng không ra mặt hoạt động chống chánh quyền và quân độ quốc gia. Đất nước được hưởng mấy năm rất thanh b́nh và khu rừng nầy có lệnh cấm không cho dân chúng vào săn bắn. Nên từ bấy giờ người dân địa phương gọi là Rùng Cấm, chỉ để dành cho gia đ́nh của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm vào săn bắn. Nơi dây có rất nhiều Nai, Heo rừng, chim Trích, chim Cu và Thỏ vv…

Nhưng bắt đầu năm 1959, bọn việt cộng nằm vùng bắt đầu hoạt động tuyên truyền và phá rối các xă, ấp vùng nông thôn. Khu rừng chồi nầy bị bỏ hoang v́ bọn chúng ẩn náo nên có nhiều hầm chông và ḿn bẫy. Lúc bấy giờ vài Tiểu đoàn TQLC thỉnh thoảng hành quân tỏa thanh nơi đây.

Từ khi các lực lượng Mỹ vào Việt Nam tham chiến năm 1965, Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ đă khai hoang khu rừng này để thiết lập căn cứ.

Theo tài liệu [14] : Thời cực thịnh của Việt Nam Cộng Hoà cho đến khi chiến tranh khốc liệt, tại mỗi trạm tuyển mộ ở khắp các tỉnh trong cả nước, từ Quảng Trị cho đến Mũi Cà Mâu, mỗi nơi, ít nhất cũng có một trạm tuyển mộ với hàng chữ trên tấm “băng-rôn” với nội dung:

“Muốn sống hùng sống mạnh, sống kiêu hănh, hăy t́nh nguyện gia nhập binh chủng Thủy Quân Lục Chiến”.

Hơn nửa,theo tài liệu [13] :   Bộ Tư Lịnh TQLC luôn luôn có 6 toán Tuyển Mộ tân binh tại khắp bốn miền chiến thuật nên trong binh chủng có những chiến sĩ ở rải rác khắp các nơi từ Đông Hà đến tận mũi Cà Mau.

Theo tài liệu [4] : Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù  cũng là hai đơn vị bộ chiến duy nhất của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa chỉ nhận lính và sĩ quan t́nh nguyện phục vụ trong binh chủng. Thủy Quân Lục Chiến có 13 toán tuyển mộ trên khắp lănh thổ miền Nam .

Theo tài liệu [14] :  Khi Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) mới ở cấp liên đoàn, muốn gia nhập binh chủng TQLCVN, bạn phải hội đủ một số tiêu chuẩn tuyển mộ, tuổi từ 18 trở lên, cao ít nhất 1 mét 58 và nặng cũng cỡ trên 60 kí lô, sức khoẻ cũng phải vào loại tốt, thiếu những tiêu chuẩn đấy, bạn có mơ cũng không thể trở thành những người lính tổng trừ bị cuả QLVNCH.

Sau này, do được nâng lên cấp sư đoàn, tiêu chuẩn trên được hạ bớt xuống, nhưng không v́ vậy mà sức mạnh của binh chủng tổng trừ bị yếu đi, mà ngược lại, các đơn vị này c̣n mạnh hơn, nhờ vào truyền thống hào hùng do những người đi trước đă tạo được. Các thế hệ đi sau thưà hưởng và giữ vững măi được truyền thống ấy. Sư Đoàn TQLCVN là một chứng minh thực tế không thể chối căi, dù kẻ thù có cố t́nh bôi bẩn nhưng không thể xoá đi những chiến công hào hùng trong suốt cuộc chiến.

Trở lại với các trạm sơ tuyển, khi được nhận, với giấy tờ chứng minh đầy đủ, mà thẻ căn cước là tờ giấy quan trọng nhất chứng minh bạn là người dân cuả Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà, giấy lược giải cá nhân, khai sinh và cái quan trọng là đơn xin t́nh nguyện gia nhập Binh Chủng TQLCVN .

Nếu trạm nào ở các tỉnh gần với Trại Cửu Long (ở Thị Nghè-tỉnh Gia Định), mỗi ngày, sau giờ làm việc, các thanh niên t́nh nguyện được xe cuả đơn vị đón về trại Cửu Long để làm các thủ tục tiếp theo. C̣n tại các tỉnh, ban tuyển mộ phải hẹn và chờ xin phương tiện vận chuyển cuả Không Quân để chở về Sàig̣n và cũng được chuyển về trại Cửu Long. Tại đây, tân binh được Y Sĩ TQLC khám sơ về sức khoẻ, ai không đủ tiêu chuẩn bị loại trả về đời sống dân sự để tuỳ họ chọn lưạ binh chủng khác.

Theo tài liệu  [15] : Vào thời điểm đệ nhị lục cá nguyệt năm 1961, Thủy Quân Lục  Chiến gồm có:

·        1 Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn;

·        1 Đại Đội Hành Chánh & Công Vụ;

·        1 Đại Đội Quân Y & 1 Bệnh Xá (Bệnh Xá Cửu Long);

·        1 Tiểu Đoàn Ymể Trợ Thủy Bộ ;

·        1 Pháo Đội Đại Bác 75 ly sơn phaó;

Tất cả các đơn vị kể trên đều đóng tại trại Cửu Long, Thị Nghè.

Và 3 Tiểu Đoàn Tác Chiến :

ü  Tiểu-đoàn 1/TQLC đóng tại Nha Trang;

ü  Tiểu-đoàn 2/TQLC đóng tại Cam Ranh;

ü  Tiểu-đoàn 3/TQLC đóng tại Thủ Đức.

 

Từ đây người ta có thể suy ra rằng trại Cửu Long phải có trước năm 1961.

Khi binh chủng lớn mạnh hơn lên cấp lữ đoàn và sư đoàn, tiêu chuẩn tuyển binh cũng hạ thấp xuống và khám sức khoẻ tổng quát đều được chuyển qua Trung Tâm 3 Tuyển mộ Nhập Ngũ (quận Hóc Môn,tỉnh Gia Định) cuả Bộ Tổng Tham Mưu phụ trách, nếu đầy đủ sức khoẻ mới trở về đơn vị tuyển mộ để bắt đầu huấn luyện trở thành tân binh TQLCVN.

(Xem thêm chi tiết trong bài Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung & Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ của cùng tác giả).

 

Trung Tâm Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Rừng Cấm (TTHLTQLCVN Rừng Cấm) :

Năm 1968 trở về trước , tân binh TQLC được đưa về thụ huấn tại Trại Yết Kiêu (trong khu thị trấn Thủ Đức,tỉnh Gia Định) trước khi dời trung tâm về Rừng Cấm.

Như đă ghi ở trên, Trại Yết Kiêu được thành lập vào năm 1955 .

Theo tài liệu  [13] :  Trung Tâm Huấn Luyện TQLC Yết Kiêu chỉ có thể chứa được một Đại đội khoá sinh tân binh.

Theo tài liệu [14]   : Trung Tâm  Huấn Luyện Rừng Cấm có một vị Đại Úy tên Hên rất đặc biệt trong phương cách huấn luyện các tân binh. Ông bị thương hư một mắt nên c̣n được gọi là “Thiếu Úư” Hên . Ông có tướng tá rất cao bồi, và chịu chơi, nhưng khi huấn luyện th́ rất nghiêm chỉnh và khổ nhục. Ngoài những phần huấn luyện căn bản. Ông thường bắt tân binh phải qua một đêm (trăng sáng vườn chè) thưởng trăng bằng cách cho tân binh ngâm ḿnh dưới cái ao nuôi vịt, nước tù đặc sệt rất dơ bẩn (v́ mùi phân cuả vịt th́ khỏi cần diễn tả !!!) ,v́ càng dơ ông càng khoái. Mọi sinh hoạt như ăn uống, tiểu, tiện đều tại chỗ, cấm không được đứng lên khỏi mực nước quy định từ ngực trở xuống. Thực ra, không ai đi tiện được, chỉ tiểu mà thôi, mà nước tiểu chắc hẳn vẫn c̣n sạch hơn nước ao tù, nuôi vịt ! Tôi  (tác giả tài liệu ) không bao giờ quên lời ông nói:

“Tôi không muốn hành các em, nhưng nếu các em chịu được mới trở thành người lính TQLC và có thể sau này, nhờ những cực khổ anh em đă qua thực tập hôm nay sẽ cứu mạng các em.” Hu! Hu! Hu!…. Cái đó th́ chưa biết có đúng không, nhưng cái ao vịt th́ thật bẩn quá sức. Nhưng phải chấp nhận, chứ ai biểu con căi cha, căi mẹ để t́m một cuộc sống hùng, sống mạnh nào !!!

Sau năm 1968, Trung Tâm Huấn Luyện  Yết Kiêu chuyển về Rừng Cấm, cũng trong quận Thủ Đức cách Sàig̣n 15 cây số. Kể từ thời gian đó, các tân binh TQLCVN được đưa về thụ huấn căn bản quân sự cuả binh chủng là TTHLTQLC Rừng Cấm .Và Trung Tâm đă huấn luyện cho rất nhiều đại đội tân binh, luôn đủ quân số để cung cấp cho sư đoàn hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ đất nước.

Và theo tài liệu  [13] :  V́ nhu cầu đào tạo thêm các chiến sĩ TQLC để nâng cấp Liên đoàn thành Sư Đoàn TQLC hầu đáp ứng với chiến trường nên vị Tư Lịnh binh chủng lúc đó là Trung Tướng Lê Nguyên Khang cho lập thêm một TTHL mới tại Rừng Cấm từ năm 1968, nằm phía Nam của căn cứ Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ.

Theo tài liệu [14] :   Rừng Cấm, cái tên mà bất cứ người lính Mũ Xanh TQLCVN nào cũng biết, mặc dù khi đến đây chẳng ai thấy có chỗ nào c̣n rừng. Mà cũng chỉ dân Mũ Xanh mới biết rơ về các khoá huấn luyện ở đây, mỗi đại đội đều có cái khác, thí dụ về thời gian huấn luyện, tuỳ theo nhu cầu chiến trường đ̣i hỏi, khoá học có thể được rút ngắn lại, hoặc dài ra.

Đám thanh niên dân sự chúng tôi (tác giả tài liệu [14] ) được đưa về TTHLTQLC gọi tắt là Rừng Cấm, qua cổng chính, quẹo bên tay phải, xuống xe. Mọi người được ông T/S (Thượng Sĩ ?) Thi chào đón. Vị này th́ cũng khoái tặng hèo mấy chú tân binh lắm lắm, ông cũng văn vẻ lắm chứ chẳng phải chơi, ông khuyên chúng tôi bớt chửi thề, nhưng nhiều khi tức giận quá ông cũng lại quăng ra ! Mà ai chả tức cơ chứ ! Mấy cái anh con nít mặt non choẹt, đủ mọi thành phần, từ thư sinh vưà rủ áo, hay người nông dân trẻ hiền lành, đến anh thợ trong cơ sở sản xuất và cả những thanh niên không công việc. Ngoài đời ,họ đang tự do vung tí mẹt, nay bỗng bị khép vào kỷ luật, chưa được huấn luyện để quen sống đời quân ngũ, cứ đuà vui như ở nhà vậy.  Tất cả đến đây với cùng một mục đích ṭng quân diệt giặc bảo vệ quê hương.

Những năm 1967-1968 ,tất cả tân khoá sinh TQLCVN trước khi bước vào chương tŕnh thụ huấn căn bản, mọi người phải xâm trên lưng cánh tay trái hàng chữ TQLC sát Cộng. Năm 1967, Trung Tâm phát mực và kim để khoá sinh tự xâm cho nhau, nội dung th́ như trên, nhưng h́nh thức th́ tuỳ ai có hoa tay có thể xâm chữ hoa, chữ in hay chữ thường cũng được. Qua năm 1968, Trung Tâm mới quy định một h́nh thức chung theo mẫu cho đồng đều và đẹp, đến năm 1969 th́ luật xâm tay huỷ bỏ.

Xin kể qua cái sơ đồ Trung Tâm .

Từ cổng chính đi vào,cái mà ai cũng phải thấy là sân cờ rất rộng, nơi này ít nhất cũng tập họp được nhiều tiểu đoàn khoá sinh và các cán bộ căn bản cuả Trung Tâm vào mỗi sáng Thứ Hai tập họp chào cờ.

 Kế sau nó là văn pḥng chỉ huy trưởng Trung Tâm, cùng các khối cuả TrungTâm.

Qua hai bờ mương thoát nước và đường nhưạ là nhà ở cuả cán bộ Trung Tâm, những ai có gia đ́nh ở khu gia binh th́ không ở đây.

Bên phải phiá sau văn pḥng là các “sam” (chambre ; pḥng)  dành cho các khoá sinh. Bên phiá tay phải là Tiểu Đoàn 1 khoá sinh, tất cả các dẫy nhà phiá bên phải tính từ cổng vào đều có chử A trước số thứ tự. Ngược lại bên trái là khu cuả Tiểu Đoàn 2 khoá sinh, và tất cả các dẫy nhà bên phiá trái đều có mẫu tự B đứng đầu, riêng hội trường thật lớn nằm giữa được lấy chung là B 52 cho nó hùng và bề thế chăng.

Về cuối là nhà ăn bên trái và câu lạc bộ Trung Tâm bên tay phải, gần bên chỗ Ban Quân Nhạc sư đoàn.

Tất cả nằm trong hàng rào pḥng thủ rất xa, rồi đến hào tác chiến, ụ đất với những cây tầm vông trồng bao quanh. Trong các khu doanh trại để có cây xanh che mát, cây bă đậu được trồng giữa các dẫy nhà ở và chung quanh sân cờ, nhà ăn, câu lạc bộ vv.

Các băi học nằm chung quanh Trung Tâm, gần là vài trăm mét mà xa th́ cỡ vài ba cây số. Chỗ nào chúng tôi cũng xếp hàng chạy đến để học. Trung Tâm do Hoa Kỳ xây dựng một phần nên cũng khang trang sạch đẹp lắm.

Rồi, giờ vào gặp ông T/S Thi xong, chúng tôi được lănh danh số, ai tới trước có số nhỏ, ai tới sau lănh số lớn. Một đại đội tân binh cỡ 150 người. Kế đến lănh quân trang về, có người đến lấy đi may bảng tên, danh số, màu xanh hay đỏ tuỳ theo ḿnh nằm vào tiểu đoàn chẵn hay lẻ v́ Tiểu Đoàn 1 tân binh th́ cứ số lẻ cho các đại đội 1, 3, 5 vv. Tiểu Đoàn 2 tân binh số chẵn .

Sau đó lập thành tiểu đội, trung đội, đại đội cũng cứ thứ tự theo danh số trước khi bàn giao cho cán bộ đại đội đến nhận. Rồi chúng tôi được dẫn sang bên cái hội trường B ǵ đó gần ngay cổng vào, B là phiá trái đó ? Cắt tóc. Phải nói cho chính xác là ủi tóc.

Công nhận mấy cha hớt tóc này nhà nghề và điệu nghệ. Đang ở đời sống dân sự, mái tóc o bế đến thế, đi cắt tóc ở ngoài, ngồi 15 hay 30 phút mới xong.Chưa tới hai phút thấy chả đuổi xuống, tưởng trục trặc ǵ, rờ lên đầu, ngỡ ngàng biết ngay ” Tóc đi sạch, chỉ c̣n ta ‘’i.

Ngỡ ngàng từ cái này qua cái kia, chưa quen việc này, đă có việc khác lạ đến.

Ở với ông Thi khi nào đầy đủ quân số, trang bị xong quân trang, tập họp lại cho chạy chung quanh sân cờ, chạy chừng nào mấy tân binh mệt rơi rụng hơn nưả mới cho nghỉ, sau đó mới giao qua bên tiểu đoàn khoá sinh. Ở đây ăn uống chơi đuà cũng hạn chế, tối cũng sinh hoạt chút chút, nhưng cũng không ở lâu lắm.

Chung chỗ ông T/S (Thượng Sĩ?) Thi c̣n có ông Ẩm và ông Ngà. Ông Ẩm th́ thường cho anh em đi “chà láng”, c̣n ông Ngà có cái h́nh phạt nhéo, vưà nhéo ông vưà ca bản nhạc đại loại lời ca cuả ông tự chế như sau : ‘’Một người nhăn nheo, một người cứ nhéo”.

Rồi có một chiều cán bộ đại đội đến nhận đưa về doanh trại dành cho khoá sinh. Tập họp đại đội lại, cán bộ mới đi t́m bộ khung ban đại diện đại đội gồm trưởng, phó, kỷ luật, thư kư, các trung đội trưởng, phó và các tiểu đội trưởng. Được hướng dẫn cách sinh hoạt, ăn uống, chỗ tắm rưả, ngủ nghỉ, giờ giấc, thức ngủ, quân trang sắp xếp như thế nào cho gọn gàng sạch mà đẹp, rồi tập tành ra sao, mọi sinh hoạt đều có nề nếp. Những sinh hoạt trong ngày cuả đại đội bao gồm: Điểm danh mọi lúc, báo cáo tŕnh diện như thế nào cho mạnh dạn, khai bệnh, vv. Đến đây, coi như đời sống dân sự chấm dứt và bước vào hẳn đời sống quân nhân. Một quân nhân Mũ Xanh cuả Binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam oai hùng.

Đời khoá sinh tân binh TQLCVN :

Sau một đêm ngủ trong sam (chambre - pḥng), 4 giờ sáng đă nghe c̣i báo thức, có anh ngái ngủ cứ tưởng như c̣n ở nhà với mẹ, dùng dà, dùng dằng, mắt nhắm, mắt mở, nhưng cũng cố í ới gọi nhau ḅ dậy, càu nhàu vài tiếng rồi vội đi đánh răng, rưả mặt và làm vệ sinh cá nhân. Đến nhà tắm cũng căi cọ om x̣m. Rồi tập họp điểm danh, thể dục buổi sáng chạy mấy ṿng quanh Trung Tâm, sau đó tập họp lại phân công tác, chia các trung đội trực, tiểu đội trực, ai coi nhà vv. Đi làm vệ sinh chung quanh doanh trại cùng những nơi được phân công vv.

Hết thời gian, nghe c̣i tập họp, mọi người lại nhanh chóng trở về, lúc này mấy anh tân binh trực đă xuống nhà bếp khiêng về cà phê, nước uống, mấy nón sắt đựng đường và bánh ḿ ăn sáng, chúng tôi lấy ca để lănh phần ăn sáng, cùng lấy nước vào b́nh để có nước giải khát trong ngày.

Đại đội trực th́ c̣n nhiều việc hơn nữa, như đi ngay “vào vùng khói lưả” (nhà bếp), (thọc huyết heo), rửa nhà vệ sinh trung tâm, và cả tắm cho mấy ẻm “M. L. H.”, đó là tiếng lóng để chỉ đi tắm heo và chuồng trại chăn nuôi cuả trung tâm. Đi tạp dịch như đi xây cất doanh trại, nhà thờ, chuà và đi lột cỏ về lát sân doanh trại cho đẹp, cứ có nơi nào trong căn cứ xin tân binh đi làm là đại đội trực cử người đi.

Giờ th́ quần áo trận dầy cộm c̣n nguyên mùi hồ cứng nhắc, giầy trận và ba lô đồ dùng theo bám chúng tôi suốt ngày, với giây ba chạc, thắt lưng to bản có gắn b́nh tong nước thường trực, cái nào cũng ghi chữ, danh số để nếu có huynh đệ chi binh, để kín nó ŕnh, mà để hở nó rinh, “lương nhẹ một tay” may ra c̣n có thể kiếm ra được, dù cái điều này rất khó với mấy anh lính “con so”. V́ thế, chưa quen cũng thấy oải ! Nhất là cái nón sắt làm cho cái cổ cứ muốn ngắc ngư, đi đứng ngượng nghịu với đôi giầy lạ lẫm.

Cả buổi sáng ngày đầu tiên tại quân trường, cán bộ đại đội hướng dẫn chúng tôi cách xếp hàng, ai cao đứng trước, hàng ngang, hàng dọc làm sao người sau nh́n ót người trước, và so hàng ngang, trung đội trưởng khoá sinh đứng đâu, đại diện đại đội đứng đâu, tŕnh diện Huấn Luyện Viên (HLV) như thế nào. Cách tŕnh diện với danh số, số quân tám số cẩn thận, cứ thuộc ḷng như ăn cháo. It ai gọi tên mà gọi nhau bằng danh số. Các trung đội trực có nhiệm vụ đi lănh trợ huấn cụ và đủ thứ linh tinh trên đời người lính mới.

Đặc biệt, có bị oan ức ǵ khi bị phạt th́ kỷ luật quân đội là: “thi hành trước, khiếu nại sau!”

Cán bộ đi lănh chương tŕnh huấn luyện về, giao cho đại diện và thư kư để báo lại cùng chuẩn bị cho các trung đội trực làm ǵ, viết phiếu như tập bắn đi lănh đạn, lănh trợ huấn cụ.vv.
Ngày nào học ở các hội trường, hay học gần th́ về doanh trại ăn cơm nhà bàn, học xa th́ trung đội trực có trách nhiệm lănh cơm ra băi ăn cơm dă chiến. Nhà bàn cũng rất hiện đại ở vào thời gian đó. Có bàn ăn, ḷ nấu nước nóng để rửa cà mèn (dân Bắc Kỳ gọi là cái lập là) rất ư là vệ sinh. Mấy anh trực th́ khi phát thức ăn, tốt nhất là cúi mặt mà phát, hoặc lỡ có nh́n lên th́ cũng: “có gặp bạn ḿnh th́ cũng coi như chẳng quen!” kẻo lỡ vớt lên cục thịt mỡ mà cấp cho nó là nó chửi, hoặc đục vào mặt chứ không dỡn đâu. Dân ṭ te, chưa gột được cái chất dân sự, chưa ở với nhau nhiều nên chưa thương yêu nhau như khi ra đơn vị tác chiến đấu.

Trung tâm huấn luyện nào cũng có chương tŕnh huấn luyện như nhau: Cơ bản thao diễn, vũ khí, tác xạ, chiến thuật, thể dục, cận chiến, đoạn đường chiến binh, ḅ hoả lực và học thêm tí chiến tranh chính trị vv.

Vũ khí th́ thường học ở các hội trường, tác xạ th́ qua trường bắn nằm đối diện Trung Tâm về phiá TĐ 1/TQLC. Các băi thực hành chiến thuật th́ nằm phiá Bệnh Viện Lê Hữu Sanh với “Làng Việt cộng” bao quanh bởi hàng tầm vông xanh rờn, gần đó có băi tập nhảy trực thăng bằng mấy cái xác trực thăng hư. C̣n kế bên phải BV Lê Hữu Sanh có một cái sân đá rộng để cho dân Mũ Xanh tập cơ bản thao diễn. Riêng vượt sông th́ chúng tôi được xe cuả trung tâm chở ra xa lộ đến Cầu Rạch chiếc gần nhà máy Xi măng Hà Tiên để vượt sông.

Đặc biệt Binh chủng TQLCVN có thêm buổi tập leo lưới lên tầu, có một khu chăng lưới tầu ở gần sân bắn, lính nhà ta xếp hàng rồi các tiểu đội thay nhau giả sóng cứ lắc lưới đung đưa cho đồng đội leo lên tầu giả.

Thêm một món học là cách cột súng cối kéo lên tầu nữa nhé, cái này măi về sau này, ra ngoài đời đôi khi tôi cũng c̣n áp dụng rất công hiệu.

Trong các môn học, chắc môn nhớ nhất vẫn là môn siết cổ, tôi quên tên HLV này rồi, h́nh như là TS (Thượng Sĩ?) Ngà khi thực tập cứ người này siết cổ người kia, nghẹt thở bất tỉnh thiệt t́nh nha mấy cha! Khi cứu tỉnh, bạn ḿnh cứ như người mất hồn, tưởng như mới ở nhà lên lại. Cái băi tập này th́ nằm ngay trước trung tâm.

Sau khi biết xử dụng vũ khí thành thạo, học bắn từ làm quen đến bắn chấm điểm tác xạ, chúng tôi bắt đầu tập chuyển chỗ ở, đi ngủ bụi. Đầu tiên ra ṿng đai pḥng thủ, sau chuyển dần ra xa, và cuối cùng th́ chiều chiều, được xe bên căn cứ Sóng thần sang đón đi gác ṿng đai căn cứ. Cái vụ này phải nhắc đến mấy tay tài xế này chạy ẩu hết biết, vào trong cổng căn cứ, có hàng rào giảm tốc độ xếp chữ chi và mấy cái ổ gà trên đường, mấy chả chạy muốn té đái chứ chẳng chơi đâu nha. Đứng mà muốn té bám chặt vào thành xe và vai bạn bè, thiệt “b́nh tĩnh mà run” chứ ai dám la làm chi cho má nó khi!

C̣n cái vụ chích ngưà, cũng như các trung tâm khác mà thôi, cứ theo thời gian nhập học mà chích, cuối khoá, thêm màn hiến mỗi anh 150 cc (cm cube) máu để dành cho đồng đội hoặc chính ḿnh khi cần.

Cuối tuần vào sáng Chủ nhật, có màn thăm gặp gia đ́nh cũng vui lắm, mỗi đại đội có toán trực tiếp tân, ai có thân nhân th́ có người vào gọi ra. Khu thăm gặp có cái sân khấu lớn dành cho các ca sĩ và binh sĩ lên hát giúp vui.

Khi đi học, đại đội tập họp điểm danh, mỗi đại đội có một lá cờ, khi di chuyển là chạy, đại đội thế nào cũng có vài con vịt đẹt bị lùi lại phiá sau bị cán bộ la rầy hoài. Khác với các trung tâm huấn luyện cấp cao, khóa sinh do nhiều thành phần, nông thôn có, thành thị có, tŕnh độ học vấn cũng khác nhau, có những anh lớp 12 mà cũng có anh không biết kư tên

Trở lại với chuyện Rừng Cấm. Thực sự mà nói, chỉ có một vài môn học đặc biệt riêng cuả binh chủng mà thôi, c̣n người tân binh TQLC cũng học các môn bộ binh căn bản, chương tŕnh huấn luyện cuả Cục Quân huấn soạn thảo mà. Chúng tôi cũng di chuyển bằng chạy bộ hàng ngày, sáng chạy thể dục, chạy ra băi chiến thuật, chạy ra trường bắn, chạy đi được th́ chạy về cũng được, nắng cũng chạy, mà mưa cũng chạy, no cũng chạy mà đói cũng chạy, những khi sinh hoạt th́ thay v́ hát bài “Lục Quân Việt Nam” mà ta hay gọi là ‘Đường trường xa.’ Th́ chúng tôi hát bài “TQLC Hành Khúc” và bài hát “Tiến Lên Đi Đoàn Cọp Biển.”

Thuốc chủng ngưà các bệnh nặng (TAB) và với những hoạt động huấn luyện không ngừng nghỉ, khiến sức khoẻ dẻo dai, ăn cũng dữ và phơi nắng phơi mưa cũng làm cho làn da đen xạm, mắt trắng dă ra, nhưng xem ra cũng c̣n đẹp trai.

Mỗi đại đội có một cờ riêng, ghi tiểu đoàn và đại đội. V́ danh dự nên người cầm cờ cũng được tuyển những anh cao to, tướng tá cũng đẹp trai nưă để cầm cờ. Cầm cờ th́ phải học thêm cách chào cờ khi có hiệu lệnh, luôn luôn sẵn sàng chạy đầu đàn, cộng với dàn hàng đầu ai cũng to lớn oai phong nên hàng quân phiá sau chạy hụt hơi mới theo kịp, dù dàn đầu chạy cũng chỉ vưà cỡ mà thôi.

Thường khi ra tới băi tập, chúng tôi luôn phải đến sớm hơn các HLV. Rồi đi an ninh băi tập xong, xếp hàng, giá súng và cho anh em nghỉ chút. Lúc này, mấy bụi gần băi, mấy bà vợ và con lính ở khu gia binh đă gánh hàng bày sẵn các món ăn và giải khát, thôi th́ đủ cả, mọi người kéo đến ḍm ḍm như đi chợ, rồi coi món nào ưng ư th́ ngồi xuống kêu ăn, ăn xong có tiền mặt th́ trả, c̣n hết tiền th́ chià “danh số” ghi sổ để cuối tháng thanh toán sau. Một buổi học có mấy giờ nghỉ, HLV nào chịu chơi th́ cho nghỉ nhiều mấy vị bán hàng cũng mau hết, c̣n vị nào nguyên tắc quá, cho nghỉ ít th́ mấy bà này cũng than trời v́ khách hàng th́ nhiều thế kia mà đành ế!

Căn bản bộ binh thường là 12 tuần lễ. Mỗi cuối tuần được nghỉ, v́ Rừng Cấm rất gần thành phố nên đi thăm cũng dễ, chỉ mấy bạn gốc miền Trung là ít có người thăm, may anh nào dẻo miệng gặp mấy em gái hậu phương đi theo gia đ́nh lên thăm tán tỉnh được th́ có lần thăm tới, c̣n dân lính ở miền Nam th́ gặp thường kỳ. Ở khu thăm gặp, ngoài cái vụ chuyện tṛ thăm hỏi, vài cán bộ cũng sắm cái máy chụp đi lang thang để ai thích th́ chộp vài kiểu ảnh làm kỷ niệm, kiếm chác chút tiền c̣m, tôi cũng chộp một kiểu, nh́n lại th́ đúng là lính, mà chưa có mặc đồ bệt, không giống TQLC, giờ coi lại vẫn c̣n ngố dù lúc đó tôi đă có 2 con.

Tôi vào học sau Tết Ta, năm 1972. Lúc c̣n đang học nghe tin TĐ 6 TQLC sang Sông Thạch Hăn bị kẹt ! Lúc đó thấy đoàn Thuỷ xa đang thành lập được đưa về căn cứ Sóng Thần. Thường khi nào học tới bài ḅ hoả lực là xong, coi như hết đoạn đường chiến binh. Riêng mấy khoá liền, chúng tôi học xong mà không cho ra trường, học đi học lại, thậm chí học cơ bản thao diễn mà tập đi ngang, đi dọc như để đi duyệt binh biểu diễn vậy đó. Chắc khối bổ sung tính đưa chúng tôi đi đại diện binh chủng duyệt binh sao kià.

Cuối cùng, sau đến gần 18 tuần học, đại đội tôi cũng được cho rời trường đi đơn vị tác chiến. Những bộ đồ bệt cất kỷ đă được sưả lại gọn gàng, như ư, bộ đồ c̣n mới tinh mới được đưa ra mặc. Mũ mầu xanh chưa có nhưng trong đoàn quân cũng oai phong lắm lắm. Một buổi văn nghệ tại hội trường B52 cho những đại đội măn khoá cùng kỳ được tổ chức, thôi th́ đủ mọi bộ môn văn nghệ được giúp vui để tiễn người ra trận. Sau buổi văn nghệ, có một cái tệ là nhiều anh em đi t́m ban đại diện để hỏi thăm sức khoẻ, v́ trong thời gian huấn luyện, mấy anh này quá khắt khe với đồng đội! Riêng đại đội tôi th́ không bị cái vụ này, mà ngược lại, mọi người rất quư mến yêu thương nhau, buồn buồn chia tay nhau từ biệt đời khoá sinh đi về đơn vị mới.

Trong Trung Tâm Huấn Luyện Rừng Cấm có câu lạc bộ Hoa Biển nhưng tác giả tài liệu [14]  không có chi tiết

Như tất cả những người lính trong QLVNCH, người Lính TQLCVN cũng đều giống như nhau về mọi mặt, nhưng có lẽ người lính TQLCVN nổi trội là nhờ vào truyền thống binh chủng, và đó là những người lính t́nh nguyện, biết nhiệm vụ cuả ḿnh là đến những vùng chiến trường gay go nhất để lùng và diệt địch, chủ động tấn công, nên họ dễ dàng đánh và đạt chiến thắng. Họ được tổ chức các đơn vị yểm trợ riêng nên yểm trợ rất hữu hiệu và cái thế mạnh là vững tay súng v́ tâm lư không bị bỏ rơi.

Theo tài liệu [2] :  Về chương tŕnh huấn luyện cán bộ, từ cuối năm 1957, sĩ quan TQLC được gửi sang Hoa Kỳ thụ huấn các khóa Sĩ Quan Căn Bản, Sĩ Quan Truyền Tin và Tham Mưu Hành Quân Thủy Bộ ở Trung Tâm Huấn Luyện TQLC Hoa Kỳ tại thành phố Quantico, tiểu bang Virginia. Một số hạ sĩ quan được tuyển chọn gửi qua Trung Tâm Huấn Luyện  HSQ TQLC tại San Diego tiểu bang California, để được huấn luyện về vũ khí, tác chiến cá nhân và cơ bản thao diễn, trở về làm cán bộ huấn luyện tại  Trung Tâm Huấn Luyện TQLC. Các hạ sĩ quan và binh sĩ cũng được gửi đi thụ huấn các ngành chuyên môn tại các quân trường trong nước. Để tạo niềm kiệu hănh "Tinh Thần Binh Chủng" (Esprit de Corps), TQLC VN chỉ thâu nhận những quân nhân t́nh nguyện, từ sỉ quan đến binh sĩ. Các vị CHỈ Huy Trưởng  Trung Tâm gồm Đại Úy Phạm Văn Chung, Đại Úy  Ngô Văn Định, Đại Úy  Hoàng Văn Nam, Trung Tá Phạm Văn Chung, sau cùng là Trung Tá Nguyễn Đức Ân.

Tháng 01 năm 1971, Sư Đoàn TQLC tiếp nhận căn cứ của Sư Đoàn 1 Lục Quân Hoa Kỳ tại Rừng Cấm, nằm tiết giáp 3 quận Thù Đức, Dĩ An và Lái Thiêu, cải danh thành căn cứ Sóng Thần. 

Căn cứ  này có phi trường cho phi cơ vận tải C-123 đáp được và băi đậu trực thăng cho 1 phi đoàn. Các đơn vị đồn trú, luôn cả Trại Gia Binh, Chợ Sóng Thần, và trường Trung Học Quân Đội, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh, có Trung Tâm Huấn Luyện, Sân Bắn, hậu cứ các Ban Chỉ Huy Lữ Đoàn 147,258,369 và 468. Các Tiểu Đoàn 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 14, 16, 18 và 3 Tiểu Đoàn Pháo Binh, Tiểu Đoàn Công Binh, Tiểu Đoàn  Quân Y, TDYTTB (Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Binh) và Đại Đội Thủy Xa LVT-5. Căn Cứ c̣n có 1 pháo đội 105 TQLC thường trực để yểm trợ cho cả ba Quận Lái Thiêu, Dĩ An và Thủ Đức cho đến ngày 30/4/1975. Các vị Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ gồm: Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn (1/1971), Thiếu Tá Lê Bá B́nh (8/1972), Đại Tá Nguyễn Năng Bảo (11/1974),  Thiếu Tá Trần Vệ Xử Lư Thường Vụ (12/1974), Trung Tá Nguyễn Đức Ân (1975).

Theo tài liệu [4] :  Vào năm 1971 trung b́nh nhận khoảng 610 thanh niên t́nh nguyện gia nhập binh chủng hằng tháng, đủ để thay thế những tổn thất chiến trường và duy tŕ quân số khả dụng.

Theo tài liệu [12] : Khoá 4/71 về Binh Chủng Thuỷ Quân Lục Chiến là khoá t́nh nguyện với 100 Sĩ Quan đông nhất học bổ túc 6 tuần lễ căn bản TQLC .

Theo tài liệu [14] : Những người “Lính Mũ Xanh” xuất thân từ TTHL Rừng Cấm có ǵ đặc biệt không? Thưa không, họ chỉ đặc biệt ở cái là trước khi vào đây, họ là những chàng trai trẻ hiền lành chân yếu tay mềm, nhưng khi măn khoá huấn luyện th́ họ rắn rỏi hơn, và chiến đấu dũng mănh đúng theo truyền thống binh chủng mà biết bao lớp người trai đi trước đă đổ máu đào dựng lên cái truyền thống hào hùng, bất khuất đó. Và họ luôn tâm niệm sống làm sao: Cho xứng danh đoàn chiến Binh Cọp Biển.

Theo tài liệu [13] : Trong mỗi trận đánh, tỹ lệ số thương vong của các binh sĩ luôn luôn là rất cao so với cấp chỉ huy. Tôi (tác giả tài liệu [13])  vẫn c̣n nhớ lúc học khoá 5 SQTB Thủ Đưc. các thầy Huấn Luyện Viên của chúng tôi thường nhắc nhở trong những giờ học Lănh Đạo Chỉ Huy rằng : “ Nhứt Tướng công thành vạn cốt khô “ Thật như vậy, các binh sĩ là những người lúc nào cũng ở tuyến đầu hứng chịu những đường tên mũi đạn. Họ là những anh hùng kiêu dũng đáng thương và đáng kính. Trong những năm chiến tranh có biết bao nhiêu binh sĩ đă bị thương và gục ngă nơi chiến trường, có người c̣n xác đựợc mang về, có người bị mất xác rồi bị chôn vùi đâu đó thật đau thương.

Theo tài liệu [14] :  Cuối cùng, nhân viết về quân trường xưa, nơi đă đào tạo rất đông những thanh niên yêu nước t́nh nguyện gia nhập Binh chủng TQLCVN để cầm súng bảo vệ quê hương, chúng tôi xin kính cẩn nghiêng ḿnh trước anh linh đồng đội xuất thân từ Quân trường Rừng Cấm thân yêu. Các anh đă anh dũng xông pha trên mọi chiến trường gian khó, đổ máu đào, tạo bao chiến công lẫy lừng, để tô thắm màu cờ, sắc áo rằn ri cuả Binh Chủng Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam oai hùng. Các anh đă tạo được sự tin yêu quư mến cuả các đơn vị bạn và dân chúng miền Nam. Sự chiến đấu can trường và hy sinh cuả các anh đă tô đậm chiến công hào hùng trong Quân sử QLVNCH. Tổ quốc luôn ghi nhớ công ơn về sự hy sinh cuả các anh trong hàng triệu chiến sĩ vô danh trong QLVNCH.

Theo tài liệu [13] : Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một số đă rời nước trước, đa số ở lại bị tù đày cộng sản. Những ai không cải tạo cũng chẳng hơn ǵ khi sống trong trại tù khổng lồ dưới ách cai trị sắt máu của bọn cộng sản. Về sau những cựu tù cải tạo được qua Mỹ theo diện HO. Những binh sĩ không có tiêu chuẩn HO nếu có tiền th́ t́m đường vượt biển, c̣n những người nghèo ở lại chịu cảnh cùng cực, đắng cay .

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://linhvnch.wordpress.com/thuy-quan-luc-chien-vnch/ Thủy Quân Lục Chiến VNCH .

2.     https://vnchtoday.blogspot.com/2020/12/binh-chung-thuy-quan-luc-chien.html Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến  -  Mũ Xanh Trần Văn Hiển- Cựu Trung Tá Trưởng Pḥng 3/SĐ/TQLC - December 4, 2020 .

3.     http://tqlcvn.org/chiensu/cs-soluoc-bc-tqlc.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Thủy Quân Lục Chiến  - MX Phạm Văn Chung - Sơ lược về Binh Chủng TQLC .

4.     http://s113345672.onlinehome.us/sudoan_tqlcvn/tqlc_mekong.htm Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam - Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến .

5.     https://nhayduwdc.org/st/hhqlvnch/hhtqlc/ndwdc_st_hhqlvnch_hhtqlc_2017MAY06.htm#HH Huy Hiệu Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến .

6.     https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ – 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm .

7.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_qu%C3%A2n_l%E1%BB%A5c_chi%E1%BA%BFn_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Ḥa .

8.     https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .

9.     http://tqlcvn.org/chiensu/cs-cuocdoi-ysi-tqlc.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Thủy Quân Lục Chiến - Một đoạn đường trong cuộc đời Y Sĩ TQLC -MX Nguyễn Văn Thế.

10.  http://s113345672.onlinehome.us/linh_tinh/antet_lehuusanh.htm Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam - Ăn Tết ở Bệnh Viện Lê Hữu Sanh - MX Trần Văn Minh ( Quái Điểu) .

11.  https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa - Quân trường Rừng Cấm .

12.  https://www.facebook.com/groups/quanphucvnch/posts/3569411056698812/ Quân phục Người Lính Việt Nam Cộng Hoà - Quoc Nguyen – Kỷ Niệm t́nh Huynh Đệ - 12 Janvier .

13.  http://tqlcvn.org/sinhhoat/sh-bcl-mx-rungcam.htm

Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Thủy Quân Lục Chiến - Mũ Xanh Rừng Cấm - MX Nguyễn Minh Châu - TĐ 3 Soibien .

14.  http://tqlcvn.org/dsst2011/dsst2011-rungcam.htm -Thủy Quân Lục Chiến -Đặc San Sóng Thần 2011 - Rừng Cấm – Đầu Đời Lính Mũ Xanh- Binh Ngố, Tiểu Cần, Nguyễn Viết Bích,Bùi Nam và Binh Bét-Tháng 4/2010.

15.  http://tqlcvn.org/chiensu/cs-phaobinh.htm  Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Thủy Quân Lục Chiến-Pháo Binh TQLC - Đềlô Cao-Cấp.

 

 


14- Trường Công Binh – Xă Chánh Hiệp, Thị xă Phú Cường, tỉnh lỵ Thủ Đầu Một (B́nh Dương)

Theo tài liệu  [1] & [2]  :  Ngành Công Binh Quân Đội  Việt Nam  được thành lập vào tháng 9 năm 1951.

Theo tài liệu [3] : Ngành Công Binh được h́nh thành  vào năm 1951 nhưng vào thời điểm này, tầm hoạt động của Công Binh Việt Nam c̣n nằm trong phạm vi của Công Binh Pháp.

Theo tài liệu [4] :  Công Binh Việt Nam Cộng Ḥa được chính thức thành lập từ ngày 01 tháng 8 năm 1955 .

Theo tài liệu [1] & [2] : Năm 1955, Bộ Chỉ Huy Công Binh được thành lập, kể cả một Trường Huấn Luyện & Đào Tạo Công Binh .

Theo tài liệu [5] : Vào cuối năm 1955, các lớp huấn luyện chuyên môn như Quân Cụ, Quân Chánh, Thông Vận Binh, Thiết Giáp Binh, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin... lần lượt trở thành các trường chuyên môn, phụ trách huấn luyện cán bộ các cấp, từ hàng binh sĩ cho đến sĩ quan, thuộc binh sở hay binh chủng. Nhưng các trường hay các lớp huấn luyện chuyên môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Chỉ Huy Trường Sĩ Quan Trừ Bị.

Vào đầu năm 1957 (cuối tháng 2 năm 1957 theo tài liệu  [6] ), Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tái hoạt động được đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm 8 quân trường  trong đó có Trường Công Binh . Riêng Trường Công Binh (và Trường Pháo Binh)  tuy thống thuộc Liên Trường nhưng trú đóng tại B́nh Dương.

Thời gian đào tạo sĩ quan Công Binh tại  Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức  là 38 tuần . Từ năm 1955 đến năm 1961, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức đă cung cấp  90% cán bộ Công Binh .

Theo tài liệu [3] :  Năm 1964, Bộ Chỉ Huy binh chủng Công Binh chính thức mang tên Cục Công Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 1 .

Theo tài liệu [1] &  [7] : Trường Công Binh  trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn-Bộ Tổng Tham Mưu-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. 

Mặt khác , theo tài liệu  [4] :  Trường Công Binh  thuộc Tồng Cuộc Tiếp Vận- Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

(Xin ghi thêm : Sư Đoàn Nhảy Dù  có  riêng một Tiểu Đoàn Công Binh Chiến Đấu Yểm Trợ trực thuộc Sư Đoàn. Chi tiết về Tiểu Đoàn này được tŕnh bày  trong  Phụ đề 2.Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến cũng có riêng Công Binh cơ hửu trực thuộc-Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 3).

Trường Công Binh có nhiệm vụ huấn luyện căn bản kỹ thuật công binh cho quân nhân các cấp, đồng thời đào tạo chuyên viên Công Binh.

Theo  tài liệu [2] :  Khẩu hiệu của Trường Công Binh  là : Cứu Quốc - Kiến Quốc.

Theo tài liệu [8] : Khoảng cuối tháng 8 năm 1955 , Trường Công Binh và Trường Pháo Binh chia sẻ  chung một doanh trại  ở  xă Chánh Hiệp, ở ngay phía bắc thị xă Phú Cường, tỉnh lỵ Thủ Đầu Một (B́nh Dương) .

Đây nguyên là doanh trại của một đơn vị thiết giáp quân đội Pháp, xây cất quy mô chắc chắn, bên bờ sông Sài G̣n. Nếu theo dọc bờ sông, từ phía nhà lồng chợ đi lên phía bắc, là thấy ngay hai ṭa nhà chính đồ sộ ba tầng lầu gạch ngói đỏ, nơi thành có tên Tây là Citadelle ở phía xa, ngay khúc cong của ḍng sông. Đơn vị thiết giáp của quân đội Pháp đóng ở đây đă về nước, không hiểu v́ sao mà người địa phương gọi trại này là Thành Pháo Thủ .

Căn nhà gạch bên trái từ cổng vào là văn pḥng của hai Ban Chỉ Huy của hai Trường. Trường Công Binh sử dụng căn nhà ba tầng bên trái . Căn nhà lầu bên phải dành cho những kho vật liệu, văn pḥng Huần Luyện Viên, các lớp học, và nơi ở khóa sinh của Trường Pháo Binh.

Câu lạc bộ Sĩ Quan chung cho hai Trường ở phía sau Trường Công Binh, nh́n ra sông Sài G̣n, hai trường luân phiên tổ chức nấu ăn mỗi tháng.

Phía ngoài trại, có một số nhà lầu hai tầng, một nhà dành cho các cố vấn Mỹ, những nhà khác dành cho các gia đ́nh sĩ quan của hai Trường.

Theo tài liệu [2] : Ngôi Trường Công Binh này nằm trên một ngọn đồi thơ mộng theo đồ án kiến trúc của Pháp để lại mà phía sau trường đồi dốc thoai thoải hướng xuống dọc bờ sông có chiếc cầu bắc ngang ḍng sông Phú Cường dẫn đường vào thị xă của tỉnh B́nh Dương.

 

truongcbvnch

Không ảnh Trường Công Binh năm 1967 - H́nh trích từ tài liệu [2] &  [9] & [10] 

 

Aucune description de photo disponible.

Trường Công Binh - H́nh trích từ tài liệu [2] 

Theo tài liệu [3] : Trường Công Binh gồm nhiều dẫy nhà to lớn xây cất từ thời Pháp với cách kiến trúc giống như trường Văn Khoa (Thành Cộng Ḥa xưa trên đường Thống Nhất)  hay là bệnh viện Grall (Đồn Đất ,đường Gia Long) ở Sài g̣n.

Theo tài liệu [4] : Trường Công Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có nhiệm vụ huấn luyện căn bản kỹ thuật công binh cho quân nhân các cấp, đồng thời đào tạo chuyên viên Công Binh. Trung B́nh mỗi năm Trường Công Binh đào tạo 6000 quân nhân chuyên nghiệp các cấp. Cho đến thời điểm cuối năm 1971, Trường đă đào tạo được 4000 Sĩ Quan và hơn 47000 Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ.

Cục Công Binh cũng thường xuyên gửi nhiều Sĩ Quan theo học các ban Kỹ Sư,Kiến Trúc Sư, Cán Sự chuyên viên kỹ thuật trong nước cũng như ngoài nước , chủ yếu là ở Hoa Kỳ.

Để nâng cao tŕnh độ kỹ thuật, Cục Công Binh cũng thường xuyên tổ chức những khóa Sĩ Quan Công Thự Tạo Tác, khỏa cứu Địa Chất,Vật Liệu Xây Cất,Giám ThỊ Công Trường, tổ chức nhiều khóa hội thảo Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng và mở nhiều khóa Cao Đẳng Kỹ Thuật Công Binh nhằn đào tạo những Sĩ Quan có một tŕnh độ tương đương kỹ sư để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của binh chủng.

Xin ghi thêm theo tài liệu [3] :   Mùa hè 1972, do lệnh tổng động viên,nhiều chàng Kiến Trúc Sư trẻ sau khi xếp bút nghiên, giá vẽ , gia nhập Quân Đội . Sau khi thụ huấn xong ở trựng Công Binh , một số những người này đă chọn ngành Công Binh Chiến Đấu .

 

 chihuy-cbvn

Thiếu Tướng Phan Trọng Chinh – Năm 1970- H́nh trích từ tài liệu [9] 

9_result

Thiếu Tướng Phan Trọng Chinh, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, duyệt đội quân danh dự khi ông đến thăm trường Công Binh B́nh Dương Phú Cường năm 1970 - H́nh trích từ tài liệu [10] 

Aucune description de photo disponible.

H́nh ảnh tại trường Công Binh năm 1973 -H́nh trích từ tài liệu [2] 

Theo tài liệu [2] : Đại tá Phan Văn Điển, cựu Chỉ Huy Trưởng trường Công Binh B́nh Dương đă qua đời  (08-12-2004) . Đại tá Phan Văn Điển khi c̣n làm chỉ huy trường Công Binh trước khi Đại tá Tám về thay, Ông rất thương anh em binh sĩ .

Aucune description de photo disponible.

Đại tá Phan Văn Điển -H́nh trích từ tài liệu [2] 

Phụ đề 1 : Công Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa

 

 

Kỳ hiệu Binh Chủng Công Binh Việt Nam Cộng Ḥa – H́nh trích từ tài liệu [1] &  [7] & [10] 

Theo tài liệu [2] : Khẩu hiệu của binh chủng Công Binh là :  Kỹ Tinh - Tiếp Hoả .

Theo tài liệu [4] :  Công Binh Việt Nam là một trong những binh chủng có tổ chức qui mô nhất cùa Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa với quân số khoảng 40000 quân nhân và công chức.

Được chính thức thành lập từ ngày 01 tháng 8 năm 1955.

Là một đơn vị yểm trợ nhưng người lính Công Binh đă gánh hai nhiệm vụ lớn mà nhiệm vụ nào cũng đổ nhiều mồ hôi và máu đào ;

Thứ nhất, trong công tác chuyên môn, những Tiểu Đoàn Công Binh Kiến Tạo đă xây dựng nhiều cầu,đường, công sự, phi trường,hải cảng, trại gia binh, công xưởng…

Theo tài liệu [11] : Thành Ông Năm ở Hóc Môn-Gia Định là bản doanh của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo do Đại tá Dương Công Liêm làm Liên Đoàn Trưởng .

Xin ghi thêm ,theo tài liệu [2] :  Công Binh c̣n xây Nghĩa Dũng Đài ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa  và xây các công tŕnh trên quần đảo Trường Sa như dựng cột cờ, bia chủ quyền, nhà tiền chế, nhà để máy phát điện, nhà chưá bồn nước dư trữ... 

Thứ hai  vừa chiến đấu vừa xây dựng là nhiệm vụ của những đơn vị Công Binh Chiến Đấu.

Binh Chủng Công Binh gồm những thành phần như sau :

1-Nghành Chiến Đấu

2-Nghành Tạo Tác

3-Nghành Tiếp Vận

4-Nghành Địa H́nh và Đồ Bản;

5-Nghành Huấn Luyện;

 

Theo tài liệu [2] : Có những người lính, mà phần đóng góp và sự hy sinh của họ trong cuộc chiến tranh Ư-Thức- Hệ Quốc Cộng , bảo vệ nền Tự Do dân chủ cho tổ quốc Việt Nam Cộng Ḥa trước 30/4/1975 không nhỏ. Lúc th́ phải san bằng dẹp bỏ những ụ ḿn làm ngăn trở việc giao thông hay quân vận, khi th́ xây dựng nhanh những chiếc cầu nổi để thay thế chiếc cầu đă bị giựt sập bởi lũ đặc công cộng sản , lắm khi tùy theo chiến thuật quốc pḥng phải phá hủy căn cứ để ngăn chặn quân địch v.v…… Đó là chức trách đặc thù của các chiến sĩ thuộc binh chủng Công Binh , điển h́nh là Lực Lượng Công Binh Chiến Đấu .

Họ dấn thân , lao vào nơi nguy hiểm để thám sát và xây dựng , nói một cách khác , lắm khi họ đă dùng máu ḿnh để mở đường cho chiến hữu các cấp thuộc mọi binh chủng bạn tiến quân, tái lập giao thông cho dân chúng. Tóm lại , tất cả Quân Dân Cán Chính đều cần tới họ, nhưng hầu như h́nh bóng những anh chiến sĩ này chưa hề thấp thoáng trong các bài viết hay ca khúc nào nhằm mục đích vinh danh họ.

Với vai tṛ tiên phuông như thám sát, mở đường, gỡ ḿn, bắt lại cây cầu vừa bị giật sập v.v.…người chiến sĩ Công Binh , đăc biệt là Công Binh Chiến Đấu, đă sát cánh tác chiến cùng các đơn vị bạn. Họ thật sự đem “thân ḿnh ra trải đường“ cho chiến hữu tiến quân.

 

Lính Công Binh xây một cầu nổi Phú Cường sau khi cầu bị giặc cộng phá hoại ngày 12 tháng 5 năm 1969-  H́nh trích từ tài liệu [2] 

 

Công Binh xây cầu nổi Phú Cường - H́nh trích từ tài liệu [2] 

 

 

Lính Công Binh làm đường - H́nh trích từ tài liệu [2] 

 

Dù chỉ là một đơn vị yểm trợ thuộc Tồng Cuộc Tiếp Vận Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa gọi là Cục Công Binh, nhưng  với sự đóng góp to lớn và không bao giờ mệt  mỏi của người lính Công Binh,các chiến sĩ xây đựng và chiến đấu đă hảnh diện nhận được sự ân thưởng lớn lao :

153 Bảo Quốc Huân Chương;

212 Quân Công Bội Tinh;

251 Lục Quân Huân Chương;

80,000 Huy Chương đủ loại khác nhau.

Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Công Binh là Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức,

Binh Chủng Công Binh đă tôn vinh Đức An Dương Vương Thục Phán Làm Thánh Tổ.

Dưới đây là bảng danh sách các Giám Đốc, Cục Trưởng  Cục Công Binh qua các thời kỳ trích từ tài liệu [1] 

Họ và Tên - Cấp bậc - Chức vụ -Tại chức - Chú thích

1 -Trần Ngọc Thức-Vơ Bị Huế K1 -Thiếu Tá -Giám Đốc -1956-1962 -Giải ngũ cuối năm 1962 ở cấp Trung Tá;

2 -Phạm Đăng Lân-Sĩ Quan Nước Ngọt Vũng Tàu -Trung Tá -1963-1967 -Giải ngũ năm 1967 ở cấp Chuẩn Tướng;

3 -Nguyễn Chấn-Vơ Khoa Nam Định -Đại Tá -Cục Trưởng (1966) -1967-1972 -Sau cùng là Chuẩn Tướng biệt phái Bộ Canh Nông ;

4 -Nguyễn Văn Chức-Vơ Bị Địa Phương Nam Việt K2 -1972-1974 -Sau lên Chuẩn Tướng.Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Quyền Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận;

5 -Nguyễn Thiện Nghị -1975 -Cục Trưởng sau cùng .

 

Thiệp chúc Tết của Cục Công Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-H́nh trích từ tài liệu [12] 

 

Bộ Chỉ Huy Công Binh Trung Ương tháng 4/1975 (trích từ tài liệu [1] )

Họ và Tên - Cấp bậc - Chức vụ - Chú thích

1 -Nguyễn Thiện Nghị -Đại Tá - Cục Trưởng;

2 -Vơ Thành Phú-Vơ Khoa Thủ Đức K3 -Phó Cục Trưởng;

3 -Lưu Văn Dũng-Vơ Bị Đà Lạt K7 -Phụ Tá Cục Trưởng;

4 -Lê Minh Chúc-Vơ Khoa Thủ Đức K2 -Tham Mưu Trưởng ;

5 -Cao Minh Châu-Vơ Khoa Thủ Đức K1 - Chánh Sự Vụ;

6 -Nguyễn Văn Tám-Vơ Khoa Thủ Đức K1 - Chỉ Huy Trưởng Trường Công Binh;

7 -Trần Văn Tuệ-Vơ Bị Đà Lạt K7 - Chỉ Huy Trưởng Căn cứ 40 Yểm trợ Công Binh;

8 -Trần Kim Vinh -Thiếu Tá -Đại đội Trưởng Đại đội Địa H́nh.

 

Phụ đề 2 : Tiểu sử  Tiểu Đoàn Công Binh Sư Đoàn Nhảy Dù

Trích từ tài liệu [13] :

Phôi thai từ Đại Đội 3 Công Binh Nhảy Dù Pháp (3è Compagnie Parachutiste du Génie) chuyển giao lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam từ năm 1954, được biến cải và phát triển thành Tiểu Đoàn Công Binh Sư Đoàn Nhảy Dù ngày 16 tháng 8 năm 1971.

Đại Đội Công Binh Nhảy Dù Việt Nam được thành lập và huấn luyện tại Trường Công Binh thuộc Tỉnh Kiến An Bắc Việt vào khoảng đầu tháng 4 năm 1954. Sau giai đoạn huấn luyện căn bản về Công Binh, Đại Đội được đưa về đồn trú tại Trường Bưởi Hà Nội để tiếp tục huấn luyện về quân sự. Sau hết đơn vị được huấn luyện về Nhảy Dù tại Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Bạch Mai và Tây Mỗ (Hà-Đông).

Quân số lúc ban đầu gồm cả Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ  Pháp Việt khoảng 60 người lấy từ Đại Đội 3 Công Binh Nhảy Dù Pháp (3è Compagnie Parachutiste du Génie).

Vị Đai Đội Trưởng đầu tiên là  Đại Úy Charmont ,  Đại Đội Phó là Trung Úy Joliaus và Trung Đội Trưởng  là Trung Úy Camescat. Môt thời gian ngắn sau đó đơn vị được bổ sung thêm 6 Sĩ Quan Việt Nam là Thiếu Úy Hoàng Công Chức, Thiếu Úy Nguyễn Hữu Hiệp, Thiếu Úy Phạm Văn Chung, Chuẫn Úy Nguyễn Văn Dương, Chuẫn Úy Nguyễn Văn Hiền làm Trung Đội Trưởng và Thiếu Úy Trần Văn Văn làm Sĩ Quan Tài Chánh.

Đại Đội cũng được bổ sung thêm một số Hạ Sĩ Quan và Hạ Sĩ từ Trường Hạ Sĩ Quan (EMR) Nam Định và Trường Huấn Luyện căn bản quân sự cấp Tiểu Đội Trưởng Quảng Yên cùng một số Binh sĩ Pháp Việt.

Đại Đội Công Binh Nhảy Dù (ĐĐ-CBND) là một đơn vị Công Binh Chiến Đấu thuộc Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam, thống thuộc Tiểu Đoàn Trợ Chiến Nhảy Dù có nhiệm vụ yểm trợ trực tiếp các Tiểu Đoàn tác chiến Nhảy Dù các phương tiện vượt sông như xuồng gổ M2, xuồng cao su zodiac và các loại thuốc nổ… đồng thời cũng tác chiến như các Tiểu Đoàn Nhảy Dù khác. Do đó Đại Đội Công Binh Nhảy Dù cũng được trang bị mọi loại vũ khí cá nhân cũng như súng cộng đồng như đại liên 7.62 ly, 12.7 ly cho đến súng cối 61 ly, súng cối 81 ly và súng Bazoka.

Sau khi hoàn tất các giai đoạn huấn luyện, đơn vị chưa kịp tham chiến th́ Hiệp Định Genève ra đời, chia đôi đất nước lấy vĩ tuyến 17 tức sông Bến Hải làm ranh giới ngăn cách. Tháng 8 năm 1954, Đại Đội Công Binh Nhảy Dù được di chuyển vào Đồng Đế Nha Trang (lúc đó chưa có Trường HSQ Đồng Đế). Đại Đội Công Binh Nhảy Dù tự xây cất doanh trại trên băi cát gần bờ biển. Sau đ́nh chiến, cuộc trao đổi tù binh giữa Pháp và Việt Minh được thực hiện, một số binh sĩ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù  bị bắt ở trận Điện Biên Phủ được trao trả và thuyên chuyển về Đại Đội Công Binh Nhảy Dù.

Trong khoảng thời gian 300 ngày để di chuyển Quân Đội Pháp Việt từ Bắc vào Nam và bộ đội việt cộng tập kết từ Nam ra Bắc, đă có rất nhiều quân nhân Việt Nam bị thất lạc đơn vị nên c̣n được tạm trú tại các điểm tiếp cư. Tháng 11 năm 1954, ĐĐ-CBND được phép đến các trại tiếp cư để tuyển mộ thêm binh sĩ cho đơn vị.

Ngày 17 tháng 11 năm 1954 tổng cộng có khoảng 60 quân nhân t́nh nguyện về ĐĐ-CBND. Trong số nầy có khoảng 20 quân nhân có gia đ́nh, số c̣n lại là lính trẻ độc thân. Nhưng tất cả đều coi như là tân binh và được huấn luyện căn bản quân sự ngay tại đơn vị. Cuối tháng 12 năm 1954 số tân binh nầy được đưa vào Sài G̣n học nhảy dù tại căn cứ huấn luyện Nhảy Dù BAPS (Base Aéroportée Parachutist Sud) tại Tân Sơn Nhất. Lúc nầy Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù c̣n do người Pháp chỉ huy và huấn luyện (Thượng Sĩ Trần Văn Vinh c̣n là Thường Vụ của TTHL nầy). Căn cứ nầy về sau bàn giao lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam và được mang tên là Căn Cứ Hoàng Hoa Thám, bản doanh của BTL/SĐND.

Tháng 3 năm 1955, người Pháp hoàn toàn trao quyền chỉ huy lại cho Việt Nam, Thiếu Úy Hoàng Công Chức được chỉ định đảm nhiệm Xử Lư Thường Vụ Đại Đội Trưởng ĐĐ-CBND đầu tiên. Cũng trong thời gian nầy, Chuẩn Úy Nguyễn Xuân Hiền vừa mới măn khóa đào tạo Sĩ Quan Trung Đội Trưởng được thuyên chuyển về ĐĐ-CBND.

Ngày 25 tháng 3 năm 1955, ĐĐ-CBND đă cùng Ban Chỉ Huy Liên Đoàn Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù  và Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù  từ Nha Trang di chuyển vào Sài G̣n họp với Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù  và Tiểu Đoàn 6   Nhảy Dù   tham dự  chiến dịch tảo trừ Lực Lượng B́nh Xuyên của Bảy Viễn. Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đóng tại Trai Quân Cụ  gần Chợ Trần Quốc Toản. Khi cuộc hành quân c̣n đang tiếp diễn, Thiếu Úy Hoàng Công Chức được lệnh thuyên chuyển khỏi Nhảy Dù và Trung Úy Trương Quang Ân tạm thời về chỉ huy ĐĐ-CBND một thời gian ngắn.

Sang đầu tháng 5 năm 1955 cuộc hành quân chấm dứt, Lực lượng B́nh Xuyên bị đánh bại và rút khỏi Sài G̣n Chợ Lớn về căn cứ địa Rừng Sác và Liên Đoàn Nhảy Dù được lưu giử lại Sài G̣n và ĐĐ-CBND được chỉ định đóng quân tại Trại La Most, đối diện Trường đua Phú Thọ. Trong thời gian nầy Trung Úy Đỗ Văn Mai về thay thế Trung Úy Trương Quang Ân trong chức vụ Đại Đội Trưởng CBND.

Cuối tháng 10 năm 1955 sau chiến dịch Hoàng Diệu truy quét tàn quân B́nh Xuyên tại Rừng Sác ĐĐ-CBND được Ban Chỉ Huy Liên Đoàn Nhảy Dù ủy nhiệm đến tiếp nhận căn cứ BAPS (Base Aéroportée Parachutist Sud) được Pháp bàn giao lại cho Quân Đội Quốc GiaViệt Nam và sau nầy dùng làm Căn Cứ Hoàng Hoa Thám, bản doanh  Bộ Tư Lệnh  Sư Đoàn Nhảy Dù (BTL/SĐND) và các đơn vị yểm trơ trực thuộc.

Về sau, theo sự lớn mạnh của Binh Chủng Nhảy Dù, ĐĐ-CBND được tăng trưởng thành Tiểu Đoàn Công Binh Nhảy Dù vào năm 1971 gồm có 3 Đại Đội 1,2 và 3 CBND mỗi Đại Đội CBND yểm trợ trực tiếp cho một Lữ Đoàn Nhảy Dù và một Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ.

Theo nhu cầu chiến trường ĐĐ-CBND lần lược được trang bị thêm một số những cơ giới nặng như xe ủi đất, xe ban đất, máy ép hơi và một số xe vận tải như GMC, Dogde 4x4, Jeep…

 Đơn vị Trưởng chỉ huy liên tiếp:

1-  Thiếu Úy Hoàng Công Chức (1954-1955) sau khi nhận bàn giao từ Pháp một thời gian ngắn, Thiếu Úy Hoàng Công Chức thuyên chuyển khỏi Binh Chủng Nhảy Du, Trung Úy Trương Quang Ân thay thế;

2-  Trung Úy Trương Quang Ân (1955) thay thế Thiếu Úy Hoàng Công Chức trong 2 tuần lể cho đến khi Trung Úy Đỗ Văn Mai từ cục Công Binh về làm Đại Đội Trương;

3-  Trung Úy Đỗ Văn Mai (1955-1956);

4-  Trung Úy Lợi Nguyên Trang (1956-1958) ;

5-  Trung Úy Nguyễn Hữu Hiệp (1958-1960) ;

6-  Trung Úy Nguyễn Hữu Trang (1960-1964) ;

7-  Đại Úy Nguyễn Văn Hiền  (1964-15/12/1968);

8-  Đại Úy Vương Đ́nh Thuyết  (15/12/1968 – 30/4/1975) (thăng Thiếu Tá rồi Trung Tá);

Từ ngày 06 tháng 5 năm 1974 đến 16 tháng 8 năm 1974 Trung Tá Thuyết đi học khóa Bộ Binh Cao Cấp, Thiếu Tá Nguyễn Huỳnh Đông- SQ Ban 3 lên Xử Lư Thường Vụ chức vụ  Tiểu Đoàn Trưởng .

Các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ đơn vị CBND đă đóng góp rất nhiều công sức và xương máu cho Binh Chủng Nhảy Dù để bảo vệ sự Tự Do và Dân Chủ cho miền Nam Việt Nam được an b́nh trong suốt 21 năm trường.

Hiệu kỳ của Tiểu Đoàn Công Binh- Sư Đoàn Nhảy Dù được 3 lần tuyên dương công trạng Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liểu.

 

 

Hiệu kỳ của Tiểu Đoàn Công Binh- Sư Đoàn Nhảy Dù - H́nh trích từ tài liệu liệu [13]

 

 

 Làm đường - Ảnh của Nguyễn Ngọc Hạnh - H́nh trích từ tài liệu liệu [13]

 

 

Lam Sơn 719 - Kiên cố và vững chắc - H́nh trích từ tài liệu [13]

 

Phụ đề 3 : Sơ lược Công Binh Thủy Quân Lục Chiến

Theo tài liệu  [14] :

Công Binh Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đóng góp rất nhiều trong việc phát triển binh chủng  TQLC qua hai nhiệm vụ chính là “Chiến Đấu và Kiến tạo”.

Công Binh TQLC khởi đầu bằng Đại Đội Công Binh do Trung Úy Bùi Văn Phẩm thành lập năm 1962. Tới năm 1968, Công Binh phát triển thành Liên Đại Đội do Đại Úy Cao Văn Tâm làm Liên Đội trưởng. Theo đà phát triển của Binh chủng, tháng 4 năm 1971, Tiểu Đoàn Công Binh TQLC được thành h́nh. Cuối năm 1971, Thiếu Tá Đỗ Văn Tỵ từ Cục Công Binh thuyên chuyển về binh chủng TQLC, được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Ngoài những công việc nguy hiểm ngoài hành quân như thiết lập những băi ḿn chống chiến xa tại căn cứ Phượng Hoàng, đặt ḿn phá cầu Đông Hà, Mỹ Chánh, Tiểu Đoàn Công Binh c̣n thiết lập và kiến tạo nhiều công tŕnh lớn trong Binh Chủng như góp phầnBây dựng Bịnh Viện Lê Hửu Sanh, biến khu căn cứ Dĩ An của Sư Đoàn  Lục Quân Hoa Kỳ giao lại thành Căn Cứ Sóng Thần với những doanh trại của các Tiểu Đoàn trong Sư Đoàn và c̣n nhiều công tŕnh khác. Công Binh TQLC có mặt hầu hết trên những vùng tham chiến của binh chủng .

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 2 Yểm Trợ Công Binh  TQLC- H́nh trích từ tài liệu [15] 

Tài liệu  tham khảo :

1.     https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_binh_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Công Binh Việt Nam Cộng Ḥa .

2.     https://www.facebook.com/oldsaigon75/posts/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-c%C3%B4ng-binh-qu%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-vi%E1%BB%87t-nam-c%E1%BB%99ng-h%C3%B2a-%E1%BB%9F-th%E1%BB%A7-d%E1%BA%A7u-m%E1%BB%99t-b%C3%ACnh-d%C6%B0%C6%A1ng-kh%E1%BA%A9u-hi%E1%BB%87u-c/2391128037602785/ Sài g̣n Xưa – 02 septembre 2019 -Trường Công Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ở Thủ Dầu Một - B́nh Dương .

3.     https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/3723-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh-c%C3%B4ng-binh-chi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BA%A5u-vnch-ph%E1%BA%A1m-v%C4%A9nh-ninh-1949-%E2%80%93-3-1975 Người Lính Công Binh Chiến Đấu VNCH Phạm Vĩnh Ninh (1949- 3/1975)  - 08-18-2012 -LNTH .

4.     Phạm Phong Dinh-Chiến Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Tủ Sách Vinh Danh-Tháng 8.2007 .

5.     https://www.nhayduwdc.org/ls/qlvnch/qt/td/2019/ndwdc_ls_qlvnch_qt_td_tsTSQTBTD_2019JUL24_wed.htm Tiểu Sử Trường Bộ Binh Thủ Đức – QLVNCH .

6.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_binh_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Trường Bộ Binh Thủ Đức .

7.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa .

8.     https://dongsongcu.wordpress.com/2023/07/23/truongphao-binh-nhung-ngay-dau-nguyen-my-quang/ ḍng sông cũ Trường Pháo Binh , Những Ngày Đầu… – Nguyễn Mỹ Quang -Posted on July 23,2023 by dongsongcu .

9.     https://linhvnch.wordpress.com/nganh-cong-binh-vnch/ Ngành Công Binh VNCH .

10.  https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .

11.  https://hung-viet.org/a5146/chuyen-tu-nhieu-nguoi-biet-tu-thanh-ong-nam-hoc-mon-den-son-la Chuyện tù nhiều người biết: Từ thành Ông Năm-Hóc Môn đến Sơn La...Anh Phương Trần Văn Ngà-22 tháng Hai 2011.

12.  https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ – 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.

13.  http://nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/TD-CB.htm  Tiểu sử Tiểu Đoàn Công Binh Sư Đoàn Đoàn Nhảy Dù – Trích trong 19 năm Binh Chủng Nhẩy Dù , xuất bản năm 1974- Thành thật cám ơn anh Nguyễn Văn Ngọc đă tặng tài liệu quư giá này- Cập nhật ngày 28/6/2019.

14.  https://vnchtoday.blogspot.com/2020/12/binh-chung-thuy-quan-luc-chien.html Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến  -  Mũ Xanh Trần Văn Hiển - Cựu Trung Tá Trưởng Pḥng 3/SĐ/TQLC-December 4,2020.

15.  https://nhayduwdc.org/st/hhqlvnch/hhtqlc/ndwdc_st_hhqlvnch_hhtqlc_2017MAY06.htm#HH Huy Hiệu Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến .

 

 

 

15- Trường Pháo Binh – Xă Phú Lợi &  Xă Phú Cường, Tỉnh Thủ Dầu Một (B́nh Dương)  & Thị trấn Dục Mỹ - Quận Ninh Ḥa, Tỉnh Khánh Ḥa

 

Theo tài liệu [1] & [2] :

Trường Pháo Binh được thành lập vào tháng 5 năm 1955, ban đầu đặt tại Phú Lợi, phía đông thị xă Thủ Đầu Một ( B́nh Dương);

Tháng 10 cùng năm 1955, Trường Pháo Binh chuyển sang  địa điểm mới tại xă Chánh Hiệp (Thành Thủ Dầu Một), ở ngay phía bắc thị xă Phú Cường, tỉnh lỵ Thủ Đầu Một  (Trung tâm tỉnh B́nh Dương).

Theo tài liệu [3] : Vào cuối năm 1955, các lớp huấn luyện chuyên môn như Quân Cụ, Quân Chánh, Thông Vận Binh, Thiết Giáp Binh, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin... lần lượt trở thành các trường chuyên môn, phụ trách huấn luyện cán bộ các cấp, từ hàng binh sĩ cho đến sĩ quan, thuộc binh sở hay binh chủng. Nhưng các trường hay các lớp huấn luyện chuyên môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Chỉ Huy Trường Sĩ Quan Trừ Bị.

Vào đầu năm 1957 (cuối tháng 2 năm 1957 theo tài liệu  [4] ) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tái hoạt động được đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm có 8  quân trường  trong đó có Trường Pháo Binh .

Riêng Trường Pháo Binh ( và  Trường Công Binh) tuy thống thuộc Liên Trường nhưng trú đóng tại B́nh Dương .

Từ năm 1955 đến năm 1961, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức đă cung cấp 97% cán bộ Pháo Binh .

Tháng 9 năm 1961, Trường Pháo Binh di chuyển ra Huấn khu Dục Mỹ, Ninh Ḥa, Khánh Hoà .

Theo tài liệu [5] : Trường Pháo Binh trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn,Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa , có nhiệm vụ huấn luyện chuyên môn cho quân nhân các cấp thuộc Binh Chủng Pháo Binh.

Khẩu hiệu  của Trường Pháo Binh là : Sấm Sét - Chính Xác .

 

Sau đây là sơ lược lịch sử thành lập Trường Pháo Binh Thủ Dầu Một (B́nh Dương) trích từ tài liệu [2] :

Trung Tâm Huấn Luyện Pháo Binh Đông Dương ( CIAI = Centre d’Instruction d’Artillerie de l’Indochine ) do quân đội Pháp thành lập ở Phú Lợi, ở phía đông thị xă Thủ Đầu Một. Tôi (tác giả tài liệu [2] ) cũng đă có dịp đến đây học một khóa bổ túc sau khi ra trường ở Thủ Đức vào tháng 4 năm 1953, và trở lại học khóa pháo đội trưởng vào cuối năm 1954. Lần này, khi tôi về lại đây, là lúc người Pháp trao lại quyền chỉ huy Trung tâm này cho người Việt Nam. Thiếu tá Bùi Hữu Nhơn là vị Chỉ Huy Trưởng (CHT) đầu tiên của Trường Pháo Binh Quân Đội Việt Nam .

Vào tháng 4 năm 1955, ở Trường, người Pháp chỉ c̣n đại úy Bigot và vài hạ sĩ quan, và thiếu tá W.(?) là người cố vấn Mỹ đầu tiên vừa đến. Đại úy Bigot đeo kính cận, cũng là huấn luyện viên chính cho khóa Pháo đội trưởng của chúng tôi năm trước, khôn ngoan và rất tinh ư, thấy tôi về ông bảo :”Tôi vẫn c̣n nhớ vụ anh tranh luận với trung úy X. (Huấn Luyện Viên HLV người Pháp) về độ chính xác của mấy điểm chuẩn vùng đài quan sát ngoài sân bắn.”

Vị trí của trường ở một địa điểm rất thuận tiện, xa thành phố và xa những xóm dân cư lân cận, lại có một vùng rộng lớn để thực tập tác xạ bằng đại bác và súng cối cỡ lớn. Chung quanh doanh trại c̣n có nhiều vùng đất trống để đo đạc địa h́nh, và thực tập di chuyển những đơn vị cấp pháo đội và cấp tiểu đoàn. Một “pháo đội nhà trường” được tăng phái về Trường để các khóa sinh thực tập quan sát tác xạ ngoài sân bắn.

Tôi về tŕnh diện Thiếu tá CHT, được chỉ định vào nhóm địa h́nh của Trung úy Nguyễn Hiền Điểm, và được giao việc viết bài dạy môn địa h́nh bằng tiếng Việt, và là huấn luyện viên môn này. Thật là một công việc rất mới mẻ, v́ phải dịch ra từ sách tiếng Pháp, mà những từ chuyên môn tiếng Việt có được chưa đấy đủ hoặc chưa rơ ràng, nói chi đến chính xác. Nhưng thế nào th́ cũng phải bắt đầu làm, v́ lịch các khóa học đă được ấn định rồi, ngoài khóa căn bản dành cho sĩ quan, c̣n những khóa Bằng chuyên môn PB (B1 và B2) cho hạ sĩ quan nữa.

Nhiều vị sĩ quan khác đă về đây trước tôi, như Thiếu tá Lâm Quang Thi, Chỉ huy phó, đại úy Trần Văn Hào, Giám đốc Quân huấn, và những HLV khác như các Trung úy Nguyễn Thành Chí, Nguyễn Xuân Cảo, Huỳnh Hữu Lân, Trần Hùng Riệu, Phan Văn Mào, Nguyễn Văn Trước, Nguyễn Tiến Lộc, Đoàn Viết Liêu, Thân Trọng Sinh,…..Ngoài ra, c̣n có Trung úy Trương Đ́nh Trường từ Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức biệt phái phụ trách Hành Chánh, và Trung úy Lư Trường Trân thuộc binh chủng Truyền Tin gửi qua làm HLV. T́nh cờ tôi gặp lại một người quen cũ ở Hà Nội xưa cùng ở chung căn nhà số 6 phố Đặng Dung là Thiếu úy Hoàng Xuân Hy, làm trên văn pḥng nhà trường.

 Lúc bắt đầu vào việc th́ nhóm địa h́nh chúng tôi có thêm Thiếu úy Vũ Văn Tuy, anh là một trong sáu sĩ quan đỗ hạng cao khóa 5 Pháo Binh Thủ Đức được thuyên chuyển về Trường, trong đó c̣n có các Thiếu úy Lê Châu Lộc, Huỳnh Vinh, Lư Thành Vịnh, Vĩnh Ninh, và Nguyễn Thanh Nhàn. Trung úy Trương Đ́nh Trường chỉ ở trường có ba tháng th́ được đổi về Liên đoàn Nhảy dù.

Ít ngày sau, Thiếu tá Chỉ Huy Trưởng thăng cấp Trung tá, và một số nhiều trung úy thâm niên khác cũng thăng cấp đại úy. Đại úy Bigot và nhóm hạ sĩ quan Pháp về nước.

Thiếu úy Vĩnh Ninh, người có khả năng Anh Ngữ khá nhất, được chọn lên làm thông dịch viên mỗi khi thiếu tá W. đến thảo luận công việc với trung tá CHT, hoặc soạn thảo những văn thư bằng tiếng Anh. Chúng tôi cũng phải bắt đầu thực tập tiếng Anh với ông cố vấn mới này. Vốn liếng những năm trung học qua bộ sách L’Anglais vivant chỉ đủ để đọc những truyện ngắn và dễ, c̣n nói th́ vẫn chẳng ra làm sao, có khi hiểu hoặc đoán được câu ông ta hỏi, th́ c̣n phải vận dụng trí óc xem nói thế nào để ông ta hiểu được ư ḿnh. Tôi phục nhất ông thiếu tá CHPhó, cứ tối đến về pḥng riêng trong dẫy nhà sĩ quan độc thân chúng tôi, ông nghiên cứu cuốn L’Anglais Sans Peine, và đọc rất to mỗi chữ, mỗi câu vang cả nhà, sau này chúng tôi mới thấy đó là cách đúng nhất để có thể phát âm tốt hơn và giúp ḿnh mạnh dạn và tự tin hơn khi nói chuyện với người Mỹ.

Tài liệu huấn luyện về tôpô (topographie=môn học về địa h́nh) của nhà trường sẵn có th́ tương đối đủ, dĩ nhiên là sách Tây, c̣n binh thư tiếng Anh th́ sau này mới có. Thành ra lúc ban đầu, nhóm địa h́nh khi soạn bài tiếng Việt phải căn cứ vào bản tiếng Pháp, ngoài những quyển tự điển Pháp-Việt đă có lúc bấy giờ để tra cứu, c̣n về những từ ngữ chuyên môn chưa có sách nào dịch cho thật sát nghĩa, mà chỉ có một tập in ronéo của Bộ (Ty) Công Chánh (?) liệt kê một số chữ liên quan đến việc đo đạc đồng ruộng, đường xá. Dù sao th́ tập đó cũng giúp chúng tôi rất nhiều trong lúc ban đầu Việt hóa những bài giảng.

 Các sĩ quan trách nhiệm giảng dậy các môn khác như khẩu đội vụ, tác xạ đại cương, dă chiến vụ, quân xa, truyền tin,…cũng gặp những khó khăn tương tự trong lúc chuẩn bị bài dạy, chúng tôi cứ góp ư với nhau, đặt ra những chữ, những tên mới, miễn là dễ hiểu, dễ nhớ. Cứ như thế, có khi phải dịch lại một chữ vài lần trước khi thấy tạm đủ nghĩa, đúng theo công việc làm. Măi sau này, khi cuốn Danh từ Quân sự do Bộ Tổng Tham Mưu được phát hành, th́ cũng là để hợp thức hóa việc chúng tôi đă làm từ trước, v́ binh chủng nào th́ góp phần của binh chủng của ḿnh vào tập sách ấy.

Trong khi chờ đợi ngày khai giảng các khóa học, các sĩ quan HLV tương lai chúng tôi làm việc trên căn nhà Bộ chỉ huy nhà trường. Căn nhà này khá dài, nửa nhà phía ngoài là văn pḥng CHT và ban văn thư, c̣n nửa nhà phía trong là chỗ chúng tôi soạn bài và hội họp trao đổi ư kiến.

Cố vấn Mỹ cung cấp cho chúng tôi những tài liệu tiếng Anh, đó là một số binh thư của quân đội Mỹ loại FM (Field Manuel). Chúng tôi soạn ra những sách riêng về pháo binh. Chúng tôi chưa nhận được chỉ thị nào cho biết là sẽ phải dạy theo tài liệu cũ (của Pháp) hay theo tài liệu mới (của Mỹ), nhưng so sánh chung chung th́ thấy hai cách cũng gần như nhau, v́ quân đội Pháp trong Thế chiến 2 cũng xử dụng những đại bác 105 / 155 ly và súng pḥng không 40 ly Bofors của Mỹ, cho nên cách điều khiển cũng gần như nhau. V́ vậy, chúng tôi thấy việc chuẩn bị bài vở dễ dàng hơn, mất th́ giờ nhất vẫn là cố t́m được nghĩa cho là đúng nhất cho những chữ chuyên môn (đúng cho lúc ấy thôi). Phải nói thật là chúng tôi chưa hài ḷng với công việc của ḿnh, nhưng lúc đầu cũng phải chấp nhận những khuyết điểm, rồi ra có dịp sẽ thay thế lại.

 

Phao binh Quan luc VNCH

Ảnh minh hoạ Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (mạng manhhai)

 

Căn cứ Phú Lợi khá lớn, khi Trường Pháo Binh h́nh thành và người Pháp ra đi th́ việc pḥng thủ là một vấn đề quan trọng, mà nhóm huấn luyện viên chúng tôi không phải chia sẻ trách nhiệm canh gác nên ít để ư đến vấn đề này, có thể là vào thời điểm ấy không có những cuộc hành quân truy lùng việt cộng hoặc không có hoạt động việt cộng ở vùng này từ sau khi Hiệp định Genève có hiệu lực. Ngoài những vọng gác cao, chung quanh trại có rất nhiều hàng rào kẽm gai chồng chất, nghe nói c̣n có nhiều băi ḿn đặt đă lâu rồi giữa những rào kẽm gai ấy nữa. T́nh h́nh yên ổn lúc đó làm cho tôi chẳng phải lo lắng ǵ, khác hẳn khi c̣n ở đơn vị. Từ trại ra phố Thủ Đầu Một có thể đi xe ngựa hoặc theo xe của trường chở gia đ́nh quân nhân đi chợ. Cuối tuần có xe Dodge 4×4 hoặc xe GMC chở những người đi phép về Sài G̣n, thả xuống đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy) gần Nhà Hát Tây (sau là ṭa nhà  Quốc Hội) , chiều chủ nhật đón về.

Từ ngoài đường cái vào, qua trạm gác, bên trái là hai căn nhà lầu, một căn là tư dinh vị Chỉ Huy Trưởng, vị Chỉ huy phó c̣n độc thân ở trong trại, nên căn thứ hai dành cho gia đ́nh vị Giám đốc quân huấn. Đi vào một khoảng ngắn nữa, bên phải là khu Pháo đội nhà trường, tôi chỉ nhớ 2 sĩ quan của pháo đội này là trung úy Nguyễn Văn Ba và thiếu úy Vũ ( Nguyễn?) Mạnh Cường.

Vào đến sân cờ của Trường, ngay góc trái là vị trí khẩu vingt-cinq pounder 88 ly, đây là đại bác của quân đội Anh, tôi đă thấy ở đó từ mấy năm trước. Văn pḥng nhà trường là một dăy nhà dài bên phải, mặt trước trông ra sân cờ. Cứ hôm nào có bắn đạn pháo binh (PB) thật cho khóa sinh tập điều chỉnh ngoài sân bắn, th́ sáng hôm đó khoảng 7 giờ, nhân viên khẩu đội của trường nạp một trái khói 88 ly và bắn ra giữa sân bắn  để dân những làng chung quanh sân bắn thấy đạn khói nổ th́ biết mà không ra ngoài đồng ngày hôm đó, hoặc cho đến khi thấy một quả đạn khói thứ hai báo hiệu chấm dứt tác xạ trong ngày. Kế bên khẩu 88 ly, dọc theo hàng rào, là vị trí những khẩu 105 ly (có mái tole) để khóa sinh thực tập.

Phía bên phải sân cờ là câu lạc bộ và cũng là nhà ăn sĩ quan, phía sau là dăy nhà cố vấn Mỹ ở và làm việc. Ở câu lạc bộ này có một ông đầu bếp lớn tuổi, chắc làm việc ở đấy cũng nhiều năm, chuyên nấu các món ăn Tây, ông vẫn c̣n ở lại khi trường chuyển giao cho Quân đội Việt Nam, cho đến khi trường rời ra Citadelle Thành Pháo thủ ngoài thị xă Phú Cường vào tháng 9 năm 1955. Tôi c̣n nhớ lần đầu ăn cơm câu lạc bộ này, mỗi carré (chỗ ngồi cho 4 người) trên bàn có bày một chai giống như chai rượu vang đỏ, tôi cứ nghĩ là rượu thật, nhưng khi rót ra uống lại là nước trà. Th́ ra trước kia ăn cơm Tây th́ có rượu thật, nay ăn cơm ta th́ đổi thành nước trà.

Qua sân cờ là sân quần vợt, cách nhau hai lớp hàng rào kẽm gai thấp, cỏ mọc ở giữa gần như che kín bên trong. Nghe nói có ḿn chôn trong hàng rào này, nhưng đàn dê của trường vẫn đuổi nhau chui qua lại hàng ngày. Vào những ngày cuối tuần, ít người đi phép, anh Lư Trường Trân thường xách vợt ra đấu với thiếu tá Thi hay đại úy Hào, hoặc hướng dẫn đám sĩ quan độc thân chúng tôi chút ít căn bản môn thể thao này. Được biết anh Trân là một cây vợt nổi tiếng vùng Hội An-Quảng Ngăi-Qui Nhơn khi anh c̣n là công chức trước khi bị động viên vào khóa 3 Thủ Đức.

Kế sân quần vợt. là hai dẫy nhà trệt mới xây, một dẫy dành cho SQ/HLV có gia đ́nh, một dẫy dành cho SQ/HLV độc thân. Đằng sau khu nhà gạch này, c̣n có một số nhà gạch do người Pháp xây từ lâu, kiểu như nhà sàn miền Thượng, nền nhà cao lên với những trụ gạch bên dưới, lối ra vào ở hai đầu nhà có xây bậc thang để lên xuống. Một số nhà kiểu này dành cho khóa sinh các cấp, c̣n lại là kho vật liệu , khu gia binh và nơi ở cho quân nhân độc thân của trường. Lúc quân đội Pháp bàn giao Trung tâm này cho Trường Pháo Binh Việt Nam (PB VN), th́ họ cũng bàn giao luôn một nhóm gái làng chơi (hợp pháp?) do họ mướn về, ở một trong những căn nhà sàn nói trên. [Chỉ một thời gian ngắn sau dó, nhóm này được giải tán].

Thường thường đi dă chiến vụ hoặc thực tập tác xạ chúng tôi kéo súng qua cổng sau của trại. Có một hệ thống điểm chuẩn trong trại để tập địa h́nh, liên kết với một số điểm chuẩn khác ngoài vùng xạ trường. Ngoài này có hai đài quan sát mang tên O1 và O2, Tây lấy chữ O do chữ Observatoire= Đài Quan Sát. Các đài quan sát này là hai ụ đất lớn, h́nh chữ U, do quân đội Nhật đắp lên để bảo vệ máy bay của họ từ thời 1941-45. Đứng trên những đài quan sát này, nh́n về hướng bắc tức là vùng tác xạ, khoảng cách từ 2 đến 8 cây số, ta thấy rải rác một số chiến xa to nhỏ, có cái bị trúng đạn nhiều lấn gần như ră ra, nhưng vẫn có thể dùng làm mục tiêu thực tập. Được biết giữa năm 1955 cũng có thêm một số chiến xa phế thải được tăng cường làm mục tiêu cho các pháo thủ.

Một sự kiện hầu như ai cũng biết là dân những làng kế cận xạ trường hay ra tháo gỡ sắt trên những chiến xa này vào những lúc không có tác xạ, chỉ để lại những mảng quá lớn thôi. Có người liều lĩnh ngồi núp đâu đó trong ngày có bắn tập, khi thấy trái đạn khói báo ngưng bắn là ùa ra kiếm đầu đạn (hoả pháo) để lấy đồng thau bán có tiền, nghe nói cũng có người chết hay bị thương sao đó, nhưng thời buổi chiến tranh ấy không thấy ai kiện cáo.

Gần hai đài quan sát là một sân bay, nay bỏ trống, t́nh trạng có vẻ c̣n tốt, không có canh gác, nếu làm nơi tập lái xe th́ thật là lư tưởng. Ngoài hai ụ đất làm đài quan sát, địa thế gần như bằng phẳng, cây cối thưa thớt, rất thích hợp cho việc huấn luyện dă chiến, đủ rộng cho nhiều đơn vị cấp tiểu đoàn thao dượt. Vào giữa năm 1955, một đơn vị thiết giáp do thiếu tá Vĩnh Lộc chỉ huy cũng đă đến đây để thực tập tác xạ và điều chỉnh đại bác trên các chiến xa.

Khoảng giữa năm, thi khai giảng khóa học đầu tiên của chương tŕnh học pháo binh bằng Việt Ngữ, gồm những sĩ quan hiện dịch, nhiều vị đă từng phục vụ lâu năm trong những đơn vị chiến đấu khác nhau, mà c̣n có cả những cựu huấn luyện viên quân trường nữa. Cũng nên nói thêm là một số sĩ quan khóa sinh khóa này về sau giữ những chức vụ quan trọng trong Binh Chủng, như đại tá Nguyễn Ngọc Sáu, CHT/PB/QĐII, đại tá Lê Văn Trang, CHT/PB/QĐIII… Những khoá B1 và B2 dành cho các hạ sĩ quan cũng tiếp tục khai giảng sau đó. Trong số huấn luyện viên chúng tôi, nhiều vị đă có kinh nghiệm qua thời kỳ giảng dậy Pháo Binh trước đây tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, (nay có danh hiệu mới là Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức), cho nên mỗi khi đến lớp không có trở ngại nào đáng kể. Tháng 5 năm 1955, đại úy Nguyễn Xuân Cảo là sĩ quan PB đầu tiên được du học Mỹ, về Chiến cụ Đạn dược ở Aberdeen Proving Ground, Maryland .

Trong trường có một căn pḥng thiết kế đặc biệt để tập bắn, mà chúng tôi gọi là sân (bắn) giảm xạ, tạm dịch từ chữ tir réduit của Pháp. Một nửa căn pḥng là nơi đứng quan sát (bằng ống nḥm), nửa kia là một mô h́nh xạ trường, cảnh vật mọi thứ thu nhỏ lại theo một tỷ lệ nào đó, có cánh đồng xanh, có núi đồi phía xa, có con sông quanh co, với những lùm cây cỏ đây đó, những mái nhà lác đác gần xa…Tất cả cảnh vật ấy được đặt trên một mạng lưới sắt ô vuông, mà sợi ngang sợi dọc có đánh số và chữ, để ghi tọa độ mục tiêu và để ban tác xạ (của nhà trường) ghi điểm rơi của mỗi viên đạn, tùy theo lệnh của quan sát viên. Ban tác xạ nhà trường căn cứ vào một bảng đă tính sẵn để đánh dấu điểm đạn rơi bằng một làn khói bơm từ bên dưới lưới của mô h́nh lên phía trên, làm cho người quan sát trông thấy (qua ống nḥm), mà ra lệnh điều chỉnh quả đạn kế tiếp. Bắn giả kiểu này có thể tiết kiệm đạn thật, nhưng những HLV cũng đă phải bỏ ra nhiều công sức tính toán thật kỹ lưỡng để tránh sai sót, theo đúng câu “sai một ly, đi một dặm.

 Mùa thu 1955, Trường Pháo Binh tham gia cuộc Triển lăm Quân đội tổ chức tại Sàig̣n, nơi công viên trước Dinh Độc Lập, ngoài việc trưng bày những vũ khí PB, một sân bắn giảm xạ cũng được thiết kế khá công phu, với sự đóng góp của các HLV và những sĩ quan sinh viên của Trường, được Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đến quan sát kỹ lưỡng và khen ngợi.

Khoảng cuối tháng 8 năm 1955,Trường Pháo Binh được lệnh chuẩn bị di chuyển ra địa điểm mới tại xă Chánh Hiệp, ở ngay phía bắc thị xă Phú Cường, tỉnh lỵ Thủ Đầu Một. Đây nguyên là doanh trại của một đơn vị thiết giáp quân đội Pháp, xây cất quy mô chắc chắn, bên bờ sông Sài G̣n. Nếu theo dọc bờ sông, từ phía nhà lồng chợ đi lên phía bắc, là thấy ngay hai ṭa nhà chính đồ sộ ba tầng lầu gạch ngói đỏ, nơi thành có tên Tây là Citadelle ở phía xa, ngay khúc cong của ḍng sông. Đơn vị thiết giáp của quân đội Pháp đóng ở đây đă về nước, không hiểu v́ sao mà người địa phương gọi trại này là Thành Pháo Thủ (?).

Trong thời gian chúng tôi thu dọn để di chuyển, th́ một đơn vị thuộc binh chủng Quân Cụ đến Phú Lợi để gỡ hết những băi ḿn do người Pháp đă gài từ trước, căn cứ vào những sơ đồ các băi ḿn để lại trong hồ sơ pḥng thủ của trại. Vào một chiều thứ bẩy, toán gỡ ḿn thanh toán khoảng đất nhỏ cuối cùng. Tôi không đi phép Sài G̣n, đang xêp dọn đồ đạc, th́ nghe một tiếng nổ lớn phía ngoài, bèn chạy ra, mới hay là ḿn nổ giữa hàng rào pḥng thủ. Hỏi ra được biết là toán gỡ ḿn chỉ c̣n phải gỡ một trái đạn súng cối nằm trong một bụi cỏ nữa là xong hết. Mặc cho mấy đệ tử khuyên là nên chầm chậm t́m cách gỡ cho an toàn hơn, ông trung úy trưởng toán lại đích thân xông vào gỡ, v́ viên đạn súng cối nằm ngay trên mặt đất có vẻ dễ lấy ra, chẳng may trái đạn nổ làm ông bị tử thương tức thời. Kể ra, để thứ hai tuần tới làm nốt cũng được, nhưng ông trưởng toán muốn làm cho xong, v́ có hẹn đi chơi với người hôn thê chiều hôm ấy rồi. Nha Quân cụ gửi ngay một toán chuyên viên đến, có cả cô người yêu của ông trung úy đi cùng. Nhưng rồi cũng loay hoay bàn bạc măi, cho đến sáng hôm sau mới có người t́nh nguyện chui vào mấy lớp rào kẽm gai cột dây kéo ông trung úy ra được.

Sau khi Trường dọn đi, th́ căn cứ này được xây cất thêm nhà, và trở thành một trại giam tù phiến cộng.

Doanh trại mới dành cho hai quân trường Pháo Binh và Công Binh. Căn nhà gạch bên trái từ cổng vào là văn pḥng của hai Ban chỉ huy của hai trường. Trường Công Binh sử dụng căn nhà ba tầng bên trái. Căn nhà lầu bên phải dành cho những kho vật liệu, văn pḥng HLV, các lớp học, và nơi ở khóa sinh của Trường Pháo Binh. Câu lạc bộ Sĩ quan chung cho hai trường ở phía sau trường Công Binh, nh́n ra sông Sàig̣n, hai trường luân phiên tổ chức nấu ăn mỗi tháng.

Theo tài liệu [6] : Các dẫy nhà to lớn này xây cất từ thời Pháp có cách kiến trúc giống như trường Văn Khoa (Thành Cộng Ḥa xưa trên đường Thống Nhất)  hay là bệnh viện Grall (bệnh viện Đồn Đất ,đường Gia Long) ở Sàig̣n.

Phía ngoài trại, có một số nhà lầu hai tầng, một nhà dành cho các cố vấn Mỹ, những nhà khác dành cho các gia đ́nh sĩ quan của hai trường. Một số gia đ́nh sĩ quan Pháo Binh  khác th́ ở trong một số nhà gạch trong trại, cạnh nhà lầu ba tầng Pháo Binh .

Đang ở Phú Lợi doanh trại tương đối thuận tiện cho việc huấn luyện, nhất là thực tập di chuyển, bố trí xe cộ, đại bác, nhà ở, nhà kho rộng răi, … nay thu hẹp vào một khoảng không gian chật chội, quả là khó thu xếp.

 Nhưng mọi chuyện rồi cũng xong, khéo ăn th́ no, khéo co th́ ấm. Ban địa h́nh chúng tôi được bố trí trên lầu ba, thượng từng không gian. Ở đây xa mặt trời, ít khi các vị đàn anh leo lên kiểm soát công việc chúng tôi làm. Các lớp học th́ ở tầng giữa. Những buổi thực tập địa h́nh lúc đầu cứ loanh quanh trong trại, nên tôi đề nghị với Ban giám đốc để lập một hệ thống địa h́nh ngoài trại, kế khu nhà dân, phía ngoài cổng sau của trường. Những điểm chuẩn địa h́nh ngoài khu sân bắn dần dần được xây gạch chắc chắn và đánh dấu rơ ràng.

Vùng hoạt động của trường mở rộng xuống phía nam, đến tận Búng, Lái Thiêu, khi có thực tập dă chiến vụ. Nhiều cuộc thi trắc nghiệm huấn luyện cho các tiểu đoàn PB cũng đă được tổ chức ở đây cũng như ở vùng xạ trường Phú Lợi.

Một điều khá lư thú là khi mới ra trại này, tất cả các sĩ quan hai trường đều được huấn luyện lại môn vũ khí cá nhân với khẩu Garand M1. Lại một dịp để ôn tập bài cơ bản thao diễn.  Khẩu súng này nặng hơn khẩu MAS 36, “bắt súng chào” kiểu mới chỉ vài phút là thấy quá đủ. Sau này, có dịp ra trường PB ở Dục Mỹ, thấy khóa sinh Biệt động ở quân trường bên cạnh thao dượt ngày đêm suốt khóa với súng Garand không dây, tôi phục quá.

Tháng 11 năm 1955, tôi được cử làm giám khảo môn địa h́nh cho kỳ thi măn khóa Hoàn Hảo, bổ túc dành cho các sĩ quan giáo phái, tổ chức tại Trường Thiếu sinh quân ĐàLạt. Nhân dịp này, tôi được giao thêm thư ủy nhiệm liên lạc với Nha Địa Dư Quốc Gia trên đó để xin một bộ tài liệu và bản đồ ghi những điểm chuẩn (do Nha Địa Dư thực hiện) trên toàn lănh thổ VN, để sau này về lập những hệ thống địa h́nh Pháo Binh chính xác hơn. Thi hành xong hai nhiệm vụ này, tôi lại gặp trung úy Lư Trường Trân lên Đà Lạt nghỉ phép giải ngũ, anh rủ tôi đi xe đ̣ xuống Nha Trang hóng gió biển. Tuổi trẻ ham vui, tôi đồng ư ngay, cũng v́ chưa đến đó bao giờ. Trở về Đà Lạt, đến Quân vụ Thị trấn đóng dấu vào sự vụ lệnh, trở về trường trễ mất ba ngày, bị Đại úy Giám đốc Quân huấn Trần Văn Hào cảnh cáo, và nói :”Chậm chút nữa là tôi báo cáo anh đào ngũ rồi.” Tôi tŕnh ông tờ sự vụ lệnh cùng với những tập sách và bản đồ được Nha Địa Dư cung cấp, th́ ông không nói ǵ. Lúc này, Trung tá Bùi Hữu Nhơn đă đổi về Bộ Tổng Tham Mưu, và Thiếu tá Lâm Quang Thi lên làm Chỉ huy trưởng Trường. Ngoài ra, trung úy Nguyễn Văn Thi cũng dược thuyên chuyển về trường làm HLV môn Truyền Tin, thay trung úy Lư Trường Trân giải ngũ.

Từ đây, việc huấn luyện hoàn toàn theo sách Mỹ. Tôi thấy về căn bản th́ không có mấy sự khác biệt, ngoại trừ về cách thức điều chỉnh bắn của quan sát viên. Pháo binh của Pháp, cho đến thời gian ấy, thông thường cử những pháo đội trưởng đi làm tiền sát viên bên cạnh những đơn vị bộ binh. Cho nên khi pháo đội tác xạ bắn quả đạn đầu tiên, phải thông báo cho tiền sát viên (pháo đội trưởng), cả độ giạt lẫn biểu xích được bắn. Tiền sát viên (pháo đội trưởng) sẽ ra lệnh cho pháo đội tác xạ những yếu tố (độ giạt, thời nổ nếu có, và biểu xích) điều chỉnh để bắn viên đạn (hoặc loạt đạn) kế tiếp. V́ thế, cuốn sách table de tir xạ biểu rất quan trọng cho người sĩ quan tiền sát, để có thể luôn luôn biết rơ ở tầm xa nào, thuốc nạp nào, muốn xa hơn hay gần lại 100 mét th́ thay đổi biểu xích là bao nhiêu; nếu sức gió (đông, tây, nam, bắc) bao nhiêu th́ độ giạt phải thay đổi thế nào…Nói tóm lại là sĩ quan tiền sát trách nhiệm nặng nề hơn người pháo thủ ở pháo đội tác xạ. Có lẽ v́ thế mà người Pháp mới tự hào Pháo binh là một binh chủng thông thái chăng ?

Nay theo lối mới, th́ tiền sát viên sẽ thi hành nhiệm vụ dễ dàng hơn, phương thức điều chỉnh quả đạn giản dị hơn, không cần tính toán ǵ nhiều, mọi chuyện khác đều do pháo đội tác xạ lo hết. Và tiền sát viên có thể là bất cứ ai, miễn là biết thể thức điều chỉnh viên đạn. Trong quá khứ, cũng đă có nhiều khóa học điều chỉnh Pháo binh được tổ chức cho nhiều đơn vị khác nhau trong QLVNCH.

Tôi được lệnh đổi về Bộ Chỉ Huy Pháo Binh ở Sàig̣n vào cuối tháng 7 năm 1957, và lại có dịp làm việc với Đại úy Nguyển Hiền Điểm một thời gian nữa. Vào thời điểm này, Bộ Tổng Tham Mưu đă có ư định t́m một địa điểm khác cho Trường Pháo Binh, thuận tiện cho việc thực tập dă chiến, và nhất là cần có một sân bắn PB lớn hơn, không gần những khu vực dân cư. Đă có lần đại úy Phạm Cao Đông và tôi bay quan sát vùng Long Thành t́m sân bắn PB.

 Cuối năm 1957, tôi được chỉ định đi cùng một nhóm sĩ quan đại diện các binh chủng do Đại úy Nguyễn văn Ty thuộc Pḥng 3/TTM dẫn đầu, đi quan sát chung quanh vùng Dục Mỹ (Khánh Ḥa), t́m một khu vực mới cho cả Liên Trường Thủ Đức.

 Chúng tôi dùng 3 máy bay quan sát hết một ngày, nhưng thấy không kết quả. Ít ngày sau, chúng tôi trở lại và đi thám sát một tuần đường bộ khắp vùng. Từ Dục Mỹ, xe jeep chỉ chạy đến Buôn Aêriêng là cùng đường, thế là phải tiếp tục lội bộ, vượt suối, leo đồi khắp vùng, lên đến tận Cheo Reo (quận Phú Bổn sau này).   Không thấy Bộ Tổng Tham Mưu  TTM nhắc ǵ về bản phúc tŕnh công phu của chúng tôi, cho măi đến nhiều năm sau, Trường Pháo Binh mới ra địa điểm mới này.

Bản phúc tŕnh của tác giả tài liệu  [2], chắc chắn đă được Bộ TTM nghiên cứu, rà xét  nghiêm chỉnh và cho thực thi , thật vậy  theo tài liệu [7] & [8] :

Trường Pháo Binh Dục Mỹ đă được thành lập từ ngày 1 tháng 8 năm 1961 trong Huấn Khu Dục Mỹ  ở Dục Mỹ thuộc xă Ninh Sim, quận Ninh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa. Trong Huấn Khu này c̣n có  hai Trung Tâm Huấn Luyện khác, đó là : Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ và Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn .

Hơn nửa theo tài liệu  [9] : Trường Pháo Binh Dục Mỹ là nơi đào tạo tất cả các lính pháo binh, các Sĩ Quan 'Đề Lô' cho chiến trường và đào tạo các Tiểu Đoàn Pháo Binh Dù.

Tại đây c̣n có Trung Tâm Huấn Luyện Bảo An (Địa Phương Quân) đóng tại cây số Mười Lăm (15) nhưng sự tồn tại của nó chỉ trong giai đoạn ngắn do tính năng và nhu cầu chiến trường sau đó phải di chuyển về Phan Rang .

Sau đây là kư ức về Trường Pháo Binh Dục Mỹ ghi lại trong tài liệu  [9], bởi một kḥa sinh của Trường Pháo Binh Dục Mỹ năm 1968 :

Sau Tết Mậu Thân 1968, cộng quân không thi hành hiệp định ngưng bắn Tết Mậu Thân, v́ vậy ông Nhân (tác giả tài liệu [10] )  đă nhập ngũ vào Khóa 5/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức vào Tháng Sáu, 1968. Sau khi học xong giai đoạn một tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, ông được chuyển qua trường Bộ Binh Thủ Đức, tân khóa sinh phải qua giai đoạn hai để trở thành một chuẩn úy.

Khóa 5/68 trường Bộ Binh Thủ Đức có 1,752 tân khóa sinh, ra trường Tháng Giêng, 1969, với cấp bậc chuẩn úy. Và tân Chuẩn Úy Nguyễn Hữu Nhân được chọn cho đi ngành Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, vào trường Pháo Binh Dục Mỹ Nha Trang để tiếp tục học khóa căn bản sĩ quan Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Ông Nhân cho biết, ông được chọn về ngành Pháo Binh v́ các bài trắc nghiệm của ḿnh trong quân trường. “Đến gần ngày măn khóa th́ các đơn vị sẽ đến trường Bộ Binh Thủ Đức và gọi tên các tân sĩ quan sẽ theo các ngành chuyên môn hay theo các quân binh chủng, và những bài trắc nghiệm đó rất có ảnh hưởng để đi qua các binh chủng và các ngành chuyên môn,” ông cho hay.

Ông Nhân nhớ lại: “Có lẽ v́ tôi theo ban B Toán, nên những bài trắc nghiệm đó có ảnh hưởng tốt cho ngành Pháo Binh.

Trong suốt sáu tháng trong quân trường đào tạo một sĩ quan Pháo Binh, tôi nghĩ ít nhất chính phủ đă phải tiêu tốn cho mỗi sĩ quan Pháo Binh cả triệu tiền lúc bấy giờ, v́ mỗi quả đạn được tính ra tiền và mỗi sĩ quan Pháo Binh sau khi tốt nghiệp khóa căn bản sĩ quan Pháo Binh cũng đă tiêu tốn của chính phủ cả triệu đồng. Chúng tôi học về quan sát, tác xạ trên miền, tâm chạm điểm, tâm nổ cao, tác xạ tiêu hủy (TOT – Time On Target) với ba yếu tố chính của Pháo Binh là nhanh chóng, chính xác và bất ngờ.”

Khóa 5/68 Căn Bản Sĩ Quan Pháo Binh gồm 120 tân chuẩn úy từ trường Bộ Binh Thủ Đức, được học thêm sáu tháng tại trường Pháo Binh Dục Mỹ Nha Trang, nơi những bài học lư thuyết và thực tế được áp dụng để trở thành một sĩ quan Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, để yểm trợ cho các đơn vị bạn.

 Khóa Căn Bản Sĩ Quan Pháo Binh hướng dẫn các sĩ quan Pháo Binh có tŕnh độ hiểu biết khi làm tiền sát viên, rồi trung đội trưởng Pháo Binh… với trách nhiệm của người pháo thủ là yểm trợ trực tiếp cho đơn vị bạn.

Các bài học và thực tập tại trường Pháo Binh với tính trách nhiệm là một tiền sát viên Pháo Binh sẽ yểm trợ cho đơn vị bạn như chấm tọa độ, chuyên sử dụng đại bác trong các cuộc hành quân. Nhờ những bài học này mà khi tốt nghiệp, trách nhiệm của sĩ quan Pháo Binh là phải chấm được tọa độ trên bản đồ, biết rơ ḿnh đang đứng tại chỗ nào trên bản đồ để bắn yểm trợ quân bạn trong các cuộc hành quân.

Sau sáu tháng miệt mài trong quân trường Pháo Binh Dục Mỹ, ông Nhân đậu với thứ hạng 19/120 và chọn Tiểu Đoàn 183 Pháo Binh tân lập đóng tại Long Khánh Xuân Lộc.

 

 

Chuẩn Úy Nguyễn Hữu Nhân (dấu X) tham dự khóa học Khẩu Đội Vụ tại trường Pháo Binh Dục Mỹ. (H́nh: Văn Lan/Người Việt chụp lại) – H́nh trích từ tài liệu [10] 

 

Binh chủng Pháo binh Việt Nam Cộng ḥa – Wikipedia tiếng Việt

Giờ thực hành tại Trung Tâm Huấn Luyện Pháo Binh (Dục Mỹ) năm 1972 – H́nh trích từ tài liệu [11]  

 

Theo  tài liệu [10] :  Pháo Binh quyết định chiến trường

Ông Nhân (tác giả tài liệu [10] ) cho hay, năm 1969 binh chủng Pháo Binh được bành trướng, do đó Pháo Binh Dù và Pháo Binh Thủy Quân Lục Chiến ra đời.

 Pháo Binh yểm trợ trực tiếp cho các quân đoàn và sư đoàn được gọi là Pháo Binh dă chiến, trong khi Pháo Binh diện địa th́ yểm trợ trực tiếp cho các tiểu khu và chi khu. Mỗi tiểu khu có một pháo đội và vị chỉ huy trưởng Pháo Binh của tiểu khu là chỉ huy trưởng Pháo Binh tiểu khu, cấp bậc thường là thiếu tá.

Ông Nhân nói: “Binh chủng Pháo Binh được gọi là một ‘binh chủng thông thái’ và người ta thường nói ‘Pháo Binh quyết định chiến trường,’ v́ khi cuộc chiến xảy ra giữa ta và địch, thắng hay bại là do sự yểm trợ của Pháo Binh, đó là trách nhiệm rất quan trọng của sĩ quan Pháo Binh .

Trách nhiệm của Pháo Binh rất nặng nề, góp phần rất lớn vào sự chiến thắng của đơn vị, người pháo thủ luôn chiến đấu trong tinh thần dũng cảm và kỷ luật. Trong bất kỳ cuộc chiến nào không có Pháo Binh, đơn vị tham chiến cảm thấy rất lo âu v́ không có đơn vị yểm trợ trực tiếp cho ḿnh, và Pháo Binh là một đơn vị rất quan trọng trong cuộc chiến.

 Phải nói Pháo Binh là một đơn vị quyết định chiến trường, nơi nào có Pháo Binh, nơi đó địch quân phải khiếp sợ, giúp cho đơn vị bạn của chúng ta yên tâm chiến đấu, từ rừng sâu đến nơi núi thẳm, hỏa lực của Pháo Binh làm cho địch quân khiếp vía kinh hoàng” , ông tự hào.

 

Dưới đây là vài h́nh ảnh lính Pháo Binh Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa ra trận .

 

1970+-+C%25C3%25A1c+ph%25C3%25A1o+%25C4%2591%25E1%25BB%2599i+105+mm+c%25E1%25BB%25A7a+qu%25C3%25A2n+Nam+VN+khai+h%25E1%25BB%258Fa+v%25C3%25A0o+v%25E1%25BB%258B+tr%25C3%25AD+qu%25C3%25A2n+%25C4%2591%25E1%25BB%258Bch_result

Các pháo đội 105 ly của Pháo Binh  Việt Nam Cộng Ḥa khai hỏa vào vị trí cộng quân năm 1970 – H́nh trích  từ tài liệu [12] 

 

5IubX1iQOtO0q--HdHTumb7kSyGmNtxxVQjpWLMzNzk_result

Lính Pháo Binh Việt Nam Cộng Ḥa đang tác xạ trong một cuộc hành quân - H́nh trích từ tài liệu [12] 

25-2-1971+%25E2%2580%2593+ph%25C3%25A1o+th%25E1%25BB%25A7+Nam+Vi%25E1%25BB%2587t+Nam+t%25E1%25BA%25A1m+ngh%25E1%25BB%2589+%25C4%2591%25E1%25BB%2583+%25C4%2583n+tr%25C6%25B0a+v%25C3%25A0+d%25C3%25B9ng+th%25E1%25BA%25BB+b%25C3%25A0i+%25C4%2591%25E1%25BB%2583+%25C4%2583n+kh%25E1%25BA%25A9u+ph%25E1%25BA%25A7n+C+t%25E1%25BA%25A1i+c%25C4%2583n+c%25E1%25BB%25A9+%25C4%2590%25E1%25BB%2591ng+%25C4%2590a%252C+H%25E1%25BA%25A1+L%25C3%25A0o._result

Pháo thủ Pháo Binh Việt Nam Cộng Ḥa tạm nghỉ để ăn trưa và dùng thẻ bài để ăn khẩu phần C tại căn cứ Đống Đa, Hạ Lào, ngày 25 tháng 02 năm 1971- H́nh trích từ tài liệu [12]

 

 

Quân Kỳ (Huy hiệu) gắn trên cổ chiến y Pháo thủ – H́nh trích từ tài liệu [11] & [12] & [13] 

 

Phù hiệu Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa – H́nh trích từ tài liệu [2]

Theo tài liệu [11] : Bài ca chính thức của binh chủng Pháo Binh: Hành Khúc Pháo Binh

H́nh bài ca trích từ tài liệu [13]

Sau đây là danh sách các Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Trung Ương, Trường Pháo Binh , Quân Đoàn  và các đơn vị Tổng Trừ Bị

Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Trung Ương và trường Pháo Binh/1975 trích từ tài liệu [11] 

Họ và Tên - Cấp bậc - Chức vụ - Chú thích

1 -Nguyễn Xuân Thịnh-Vơ Bị Đà Lạt K3 -Trung Tướng -Chỉ Huy Trưởng ;

2 -Dương Thái Đồng-Vơ Bị Đà Lạt K5 -Đại Tá -Chỉ huy Phó ;

3 -Phan Đ́nh Tùng-Vơ Bị Đà Lạt K5 - Đại Tá -Phụ Tá Chỉ Huy Trưởng;

4 -Nguyễn Văn Thi - Đại Tá -Tham Mưu Trưởng ;

5 -Hồ Sĩ Khải-Vơ Khoa Thủ Đức K3 - Đại Tá -Chỉ Huy Trưởng Trường Pháo binh - Chỉ Huy Phó: Trung Tá Trịnh Lê Triển .

 

Chỉ Huy các đơn vị Pháo Binh thuộc Quân Đoàn I/1975 trích từ tài liệu [11] 

Họ và Tên - Cấp bậc - Đơn vị - Chú thích

1 -Phạm Kim Chung-Vơ Bị Đà Lạt K6 -Đại Tá -PB Quân Đoàn -Chỉ Huy Phó: Đại tá Cao Nguyên Khoa ;

2 -Phan Văn Phúc-Vơ Khoa Thủ Đức K5 -Trung Tá -PB Sư Đoàn 1/BB ;

3 -Lê Thương-Vơ Khoa Thủ Đức K5 -Đại Tá -PB Sư Đoàn 2/BB ;

4 -Nguyễn Hữu Cam-Vơ Khoa Thủ Đức K3 -Trung Tá -PB Sư Đoàn 3/BB -Chỉ Huy Phó: Trung Tá Trần Thanh Hào ;

5 -Nguyễn Đăng Nho -Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Quảng Trị;

6 -Hồ Đăng Khoa - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Thừa Thiên ;

7 -Nguyễn Văn Vọng - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Quảng Nam;

8 -Lê Thế Sản-Khóa 1 Đồng Đế - Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Quảng Tín;

9 -Trần Trai-Vơ Khoa Thủ Đức K7 - Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Quảng Ngăi .

 

Chỉ Huy các đơn vị Pháo Binh thuộc Quân Đoàn II/1975 trích từ tài liệu [11] 

Họ và Tên - Cấp bậc -Đơn vị - Chú thích

1 -Nguyễn Ngọc Sáu-Vơ Bị Đà Lạt K8 -Đại Tá -PB Quân Đoàn -Chỉ Huy Phó: Trung Tá Phan Văn Sang ;

2 -Lê Đ́nh Ninh-Vơ Khoa Thủ Đức K4 -Trung Tá -PB Sư đoàn 22/BB;

3 -Đặng Nguyên Phả-Vơ Khoa Thủ Đức K4 - Trung Tá -PB Sư đoàn 23/BB;

4 -Tiêu Đại Giang -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu -Kontum ;

5 -Nguyễn Văn Hiển - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Pleiku ;

6 -Đặng Văn Song -Đại Úy -PB Tiểu Khu Darlac ;

7 -Trần Văn Bường-Vơ Bị Đà Lạt K18 -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Quảng Đức;

8 -Phạm Hữu Kỳ-Vơ Khoa Thủ Đức K7 - Thiếu Tá -PB Tiểu Khu B́nh Định;-

9 -Đinh Văn Sang - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Phú Yên;

10 -Nguyễn Liên Đô -Đại Úy -PB Tiểu Khu Khánh Ḥa ;

11 -Đinh Tiến Hùng-Vơ Khoa Thủ Đức K6 -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Ninh Thuận;

12 -Nguyễn Công Lư - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu B́nh Thuận.

 

Chỉ Huy các đơn vị Pháo Binh thuộc Quân Đoàn III/1975 trích từ tài liệu [11] 

Họ và Tên - Cấp bậc - Đơn vị - Chú thích

1 -Lê Văn Trang-Vơ Bị Đà Lạt K10 -Đại Tá -PB Quân Đoàn -Chỉ Huy Phó: Đại tá Hồ Văn Tâm ;

2 -Nguyễn Đạt Sinh-Vơ Khoa Thủ Đức K4 -Trung Tá -PB Biệt Khu Thủ Đô;

3 -Tống Mạnh Hùng-Vơ Khoa Thủ Đức K5 - Trung Tá - PB Sư Đoàn 5/BB;

4 -Ngô Văn Hưng-Vơ Khoa Thủ Đức K3 -Đại Tá -PB Sư Đoàn 18/BB;

5 -Phạm Hữu Nghĩa-Vơ Bị Đà Lạt K10 -Trung Tá -PB Sư Đoàn 25/BB;

6 -Đặng Hữu Bá-Vơ Khoa Thủ Đức K10 -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Biên Ḥa;

7 -Hồ Huệ Phú-Vơ Bị Đà Lạt K13 - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu B́nh Dương;-

8 -Lai Tỷ - Thiếu Tá- PB Tiểu Khu B́nh Long;

9 -Lê Quang Đạt-Vơ Khoa Thủ Đức K5 - Thiếu Tá -PB Tiểu Khu B́nh Tuy;

10 -Nguyễn Ngọc Ánh-Vơ Bị Đà Lạt K18 - Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Gia Định;

11 -Phan Văn Khải-Đồng Đế K1 - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Hậu Nghĩa;

12 -Lê Tiến Khai - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Long An ;

13 -Trần Đức Hiệu-Vơ Khoa Thủ Đức K7 - Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Long Khánh;

14 -Đinh Văn Nê - Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Phước Long;

15 -Lê Ngọc Bửu - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Phước Tuy;

16 -Nguyễn Quang B́nh - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Tây Ninh .

 

Chỉ Huy các đơn vị Pháo Binh thuộc Quân Đoàn IV/1975 trích từ tài liệu [11] 

Họ và Tên - Cấp bậc - Đơn vị - Chú thích

1 -Nguyễn Văn Thọ-Vơ Bị Đà Lạt K7 - Đại Tá -PB Quân Đoàn -Chỉ Huy Phó: Trung Tá Huỳnh Hữu Lân ;

2 -Nguyễn Khắc Thiệu-Vơ Khoa Thủ Đức K3 - Đại Tá -PB Sư Đoàn 7/BB;

3 -Vơ Văn Sáng -Trung Tá -PB Sư Đoàn 9/BB;

4 -Nguyễn Bá Nhẫn-Trung Tá - PB Sư Đoàn 21/BB;

5 -Trương Văn Long-Vơ Khoa Thủ Đức K9 -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu An Giang;

6 -Trần Văn Toàn - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu An Xuyên ;

7 -Phạm Văn Hai -Trung tá -PB Tiểu Khu Ba Xuyên;

8 -Trần Văn Chính-Vơ Khoa Thủ Đức K14 -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Bạc Liêu;

9 -Phan Đ́nh Hạo -Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Châu Đốc;

10 -Nguyễn Văn Tâm - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Chương Thiện;

11 -Lê Minh Trí-Vơ Khoa Thủ Đức K7 - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Định Tường;

12 -Lâm Tiến Hải - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu G̣ Công;

13 -Đào Duy Tân-Vơ Khoa Thủ Đức K7 - Thiếu Tá - PB Tiểu Khu Kiên Giang;

14 -Huỳnh Văn Chương -Đại Úy -PB Tiểu Khu Kiến Ḥa ;

15 -Nguyễn Văn Tốt -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Kiến Phong;

16 -Hà Đức Ninh -Đại Úy -PB Tiểu Khu Kiến Tường ;

17 -Đoàn Tiến Lộc -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Phong Dinh ;

18 -Trần Văn Th́n -Đại Úy -PB Tiểu Khu Sa Đéc;

19 -Nguyễn Văn Thửa-Vơ Khoa Thủ Đức K8 -Thiếu Tá -PB Tiểu Khu Vĩnh B́nh;

20 -Nguyễn Vạn Khương -Đại Úy -PB Tiểu Khu Vĩnh Long.

 

Chỉ Huy Pháo Binh các đơn vị Tổng Trừ Bị/1975 trích từ tài liệu [11] 

Họ và Tên -Cấp bậc - Đơn vị - Chú thich

1 -Nguyễn Văn Tường-Vơ Khoa Thủ Đức K4 -Đại Tá -PB Sư Đoàn Nhảy Dù;

2 -Đặng Bá Đạt-Vơ Khoa Thủ Đức K6 -Trung Tá -PB Sư Đoàn  Thủy Quân Lục Chiến ;

3 -Đặng Toàn-Vơ Bị Đà Lạt K10 - Trung Tá - PB Binh chủng Biệt Động Quân.

----

Xem thêm chi tiết về Pháo Binh  Sư Đoàn Nhảy Dù và  Thủy Quân Lục Chiến thứ tự  trong Phụ đề 1 và  Phụ đề 2 ở cuối bài .

(Ghi chú : TM đă t́m kiếm các tin tức về Pháo Binh- Binh Chủng Biệt Động Quân nhưng không có kết quả, xin các bậc thức giả bổ túc cho.Xin đa tạ).

Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh qua các thời kỳ trích từ tài liệu [11] 

Họ và Tên - Cấp bậc -Tại chức - Chú thích

1 -Bùi Hữu Nhơn-Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt -Trung Tá-1955-1956 -Chỉ huy trưởng đầu tiên ;

2 -Nguyễn Xuân Trang-Sĩ Quan Nước Ngọt - Trung Tá-1956-1959 -Chỉ huy lần thứ nhất;

3 -Lâm Quang Thi-Vơ Bị Đà Lạt K3 -Thiếu Tá -1960-1961 -Sau cùng là Trung Tướng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 1;

4 -Nguyễn Xuân Thịnh -Trung Tá -1961-1962 -Chỉ huy lần thứ nhất ;

5 -Nguyễn Xuân Trang -Đại Tá -1963 -Chỉ huy lần thứ hai ;

6 -Bùi Hữu Nhơn - Đại Tá -1964 -Chỉ huy lần thứ 2. Sau cùng là Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức. Giải ngũ năm 1968 ;

7 -Hồ Nhựt Quan-Vơ Bị Đà Lạt K5 - Đại Tá -1964-1965 -Sau cùng là Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Giải ngũ tháng 3/1975 ;

8 -Nguyễn Xuân Trang -Chuẩn Tướng -1966-1968 -Chỉ huy lần thứ ba. Sau cùng là Thiếu Tướng Tham Mưu Phó Nhân viên tại Bộ Tổng Tham Mưu ;

9 -Phan Đ́nh Tùng -Đại tá -1968 -Xử lư Thường vụ chức vụ Chỉ Huy Trưởng ;

10 -Nguyễn Đức Thắng-Vơ Khoa Nam Định-Trung Tướng -1968 -Chức vụ sau cùng: Trung Tướng Phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng. Giải ngũ năm 1973 ;

11 -Phan Đ́nh Soạn-Vơ Khoa Thủ Đức K1 -Đại Tá -1968-1972 -Cuối tháng 2 năm 1972 đang là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 1, bị tử nạn trực thăng ,được truy thăng Thiếu Tướng ;

12 -Nguyễn Xuân Thịnh -Trung Tướng -1972-4/1975 -Chỉ huy lần thứ hai và cũng là Chỉ Huy Trưởng cuối cùng .

 

Theo tài liệu [14] :

Đêm Mồng Một Tết (30 tháng một)  Mậu Thân 1968, bọn việt cộng mở các cuộc tấn công  vào các doanh trại của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong đó có khu vực Pháo Binh ở G̣ Vấp-Gia Định. Tại đây có Trại Cổ Loa và Trại Nơ Thần gồm Bộ Chỉ Huy Pháo Binh, một vài hậu cứ của Tiểu Đoàn Pháo Binh và căn cứ của Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh đóng trong Trại Nơ Thần.

Địch chỉ thành công xâm nhập một phần Trại khu Cổ Loa.

Trại Cổ Loa pḥng thủ sơ sài.Tuy được Bộ Tổng Tham Mưu ban lệnh báo động và một vài quan nhân sống ngoài Trại biết địch xâm nhập và vào báo cáo nhưng bất chợt địch xung phong  vào cổng phía Tây Bắc của Trại khiến tại đây có 1 Tiểu Đội canh gác không thể ngăn chặn được địch xâm nhập và chỉ ngăn chặn được khi nhờ các khẩu đại bác 105 ly của Tiểu Đoàn  61 Pháo Binh bắn trực xạ.

Nhiều phần tử địch được chuyên chở bằng xe gắn máy từ G̣ Vấp đến tăng cường cho mặt trận.

Địch không vào được nên dùng bích kích pháo bắn vào và đồng thời đột nhập cư xá sĩ quan ở phía Bắc để lung bắt các sĩ quân nhân.

Trại Cổ Loa được quân đội quốc gia chiếm lại vào lúc 18 giờ 30 ngày mổng 3 Tết-Mậu Thân .

Rạng sáng ngày Mồng 4 Tết, địch c̣n từ các hướng Bắc và Đông Bắc mở một cuộc tân công chót vào các căn cức của Pháo Binh. Chúng đă thành công đột nhập vào môt phần trại, khiến pháo binh của Trại Nơ Thần phải bắn trực xạ một lần nửa mới đẩy lui được địch. Trong cuộc tấn công này, 2 khẩu 105 ly hư hại.

 

Phụ đề 1 : Pháo Binh Sư Đoàn Nhẩy Dù

Theo tài liệu [15] & [16] :

Pháo Binh Sư Đoàn Nhảy Dù (PB SĐND) có thể nói bắt đầu được thành h́nh từ ngày 05 tháng 4 năm 1954 khi người Pháp chuyển giao lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam từ đơn vị 3è Compagnie Étrangère Parachutiste de Mortiers Lourds (Đệ Tam Đại Đội Súng Cối) ; Vị Đại Đội Trưởng người Pháp đương thời là Đại Ùy Robert De Levy.

Do bởi SVVT số 6185/TTM/1/SL do Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh kư ngày 05 tháng 4 năm 1954,  Đệ Tam Đại Đội Súng Cối được cải danh là Đại Đội Súng Cối Nhảy Dù (được trang bị 9 khẩu súng cối 4.2 có thể để dưới đất, hay gắn vào thiết vận xa M113).

Nhưng theo tài liệu [17] & [18] : Đại Đội Súng Cối 106  là một đơn vị của Tiểu đoàn Trợ Chiến Nhảy Dù thành lập bởi Đại úy Nguyễn Thọ Lập để Yểm Trợ Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam do các sĩ quan Việt Nam chỉ huy từ ngày 29 tháng 9 năm 1954.

Đại Đội Súng Cối 106 ly chính là nguồn gốc của Pháo Binh Sư Đoàn Nhảy Dù ( PB SĐND); Các sĩ quan trong đại đội phần lớn được huấn luyện qua khóa sĩ quan căn bản pháo binh; c̣n một số khác chưa được huấn luyện căn bản pháo binh, cán bộ cấp dưới đều được huấn luyện qua các khóa CC1, CC2 , B1 , B2 pháo binh .

(Phụ chú : Theo các tin tức trên mạng :

CC1 : Caporal-Chef de Première Classe ;

CC2 : Sergent-Chef BM2 ;

B1 : Entre un Caporal-Chef et un Sergent ;

B2 : Sergent-Chef titulaire du Brevet Militaire Niveau 2 (BM2) ).

 

Tháng 6 năm 1955, Đại Úy De Levy bàn giao quyền chỉ huy Đại Đội Súng Cối Nhảy Dù lại cho Trung Úy Bùi Kim Kha.

 

Trung Úy Bùi Kim Kha năm 1955- H́nh trích từ tài liệu [19] 

 

Đến ngày 23 tháng 5 năm 1956, Trung Úy Bùi Kim Kha bàn giao chức vụ Đại Đội Trưởng lại cho Trung Úy Huỳnh Long Phi.

Doanh Trại của đơn vị Súng Cối Nhảy Dù:

Từ 01/05/1954 –11/8/1954, tại Trường Bưởi–Hà Nội ;

Từ 14/08/1954 – 23/8/1955, đồn trú tạiTrung Tâm Huấn Luyện (TTHL) Đồng Đế Nha Trang;

Từ 24/08/1955–30/04/1956, di chuyển về Trại Nguyễn Trung Hiếu, Bà Quẹo;

Đến ngày 31/12/1956 dời về Căn Cứ Hoàng Hoa Thám;

Ngày 26/10/1959 (1960 theo tài liệu [17] ) , khi Liên Đoàn Nhảy Dù được tăng trưởng thành Lữ Đoàn Nhảy Dù, Đại Đội Súng Cối được cải danh thành Pháo Đội Súng Cối Nhảy Dù.

Ngày 01/12/1965, Lữ Đoàn Nhảy Dù được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận cải danh thành Sư Đoàn Nhảy Dù, Pháo Đội Súng Cối Nhảy Dù cũng được cải danh thành Tiểu Đoàn Pháo Binh  Sư Đoàn Nhảy Dù. Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu tá Huỳnh Long Phi.

Doanh Trại của Tiểu Đoàn  Pháo Binh Nhảy Dù từ khi mới thành lập tại căn cứ Hoàng Hoa Thám cho đến ngày 30/4/1975.

Đến ngày 01/7/1968, khi lập thêm các Tiểu Đoàn 2 và 3 Pháo Binh Nhảy Dù, Tiểu Đoàn  Pháo Binh  Nhảy Dù cũng được cải danh thành Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù. Khi Thiếu tá Huỳnh Long Phi lên làm Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Nhảy Dù bàn giao chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng  Tiểu Đoàn 1 lại cho Thiếu tá Trần Thanh Liêm.

Về Phương diện tổ chức, Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù gồm có 4 Pháo Đội: Pháo Đội Chỉ Huy và 3 Pháo Đội Tác Xạ A1, B1 và C1.

Theo tài liệu [17] : Thiếu tá Huỳnh Long Phi rất vất vả trong giai đoạn đầu, v́ không đủ sĩ quan cho nên ông phải làm việc kiêm nhiệm phần vụ của các sĩ quan tham mưu, ông chính là vị đàn anh, thanh liêm, kỹ thuật Pháo Binh giỏi, tận tụy với đơn vị, làm gương cho tất cả các Pháo Thủ Mũ Đỏ, nhờ ông mà Pháo Binh Nhảy Dù mới học được kỹ thuật Nhảy Dù với súng đại bác 105 ly.

Pháo Đội A được thành lập do Trung Úy Nguyễn Văn Nghi;

Pháo Đội B được thành lập do Trung Úy Hà Minh Phương ;

Pháo Đội C được thành lập do Trung Úy Bùi Đức Lạc;

Pháo Đội CH được thành lập do Trung úy Lâm Quang Thường.

Trong thời gian này mỗi Pháo Đội Nhảy Dù yểm trợ trực tiếp một Chiến Đoàn Nhảy Dù, mỗi Tiểu Đoàn Nhảy Dù chỉ có một toán Tiền Sát Viên Pháo Binh.

Măi tới tháng 6 năm 1968 mới có Tiểu Đoàn Phó kiêm Ban 3 là Đại úy Bùi Đức Lạc.

Đại úy Lạc đă được Thiếu tá Phi hướng dẫn trong mọi công việc điều hành hằng ngày, khi ở hậu cứ cũng như lúc hành quân, nhất là kỹ thuật nhảy dù với súng đại bác, cho nên Pháo Đội C là pháo đội đầu tiên thao dượt nhảy dù với súng đại bác.

Tháng 6 năm 1968, Tiểu đoàn Pháo Binh SĐND được đổi tên thành Tiểu đoàn  1 Pháo Binh Nhảy Dù (TĐ1 PBND), các Pháo Đội kèm theo con số 1 đi sau, các tiểu đoàn trưởng gồm:

Thiếu Tá Huỳnh Long Phi 1965-1969;

Thiếu Tá Trần Thanh Liêm 1969-1971;

Thiếu Tá Bùi Đức Lạc 1971-1973;

Thiếu Tá Nguyễn Bá Trí 1973-1975.

 

Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù :

 

 

Huy hiệu Tiểu  Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù – H́nh trích từ tài liệu [17]

 

Về phương diện chiến thuật: Tiểu Đoàn 1 PBND yểm trợ hành quân cho một Lữ Doàn Nhảy Dù và được điều động bởi Bộ Chỉ Huy PB Sư Đoàn tuỳ theo nhu cầu hành quân.

Các vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù liên tiếp:

1. Thiếu tá Huỳnh Long Phi (01/12/1965–07/07/1968),

2. Thiếu tá Trần Thanh Liêm (07/07/1968–15/07/1971),

3. Thiếu tá Bùi Đức Lạc (16/07/1971–01/01/1973),

4. Thiếu tá Nguyễn Văn Thông(02/01/1973–01/10/1973,

5. Thiếu tá Nguyễn Bá Trí (02/10/1973–30/04/1975).

Số lần tuyên dương công trạng:

–1 lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội,

–3 bảng tuyên công đơn vị.

 

Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù


Huy hiệu Tiểu  Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù – H́nh trích từ tài liệu [17]

 

Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù được thành lập ngày 01 tháng 7 năm 1968 tại căn cứ Hoàng Hoa Thám Sài G̣n để đáp ứng nhu cầu của SĐND trước chiến trường sôi động. Thiếu tá Nguyễn Văn Tường làm Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên. Sau khi thành lập Tiểu Đoàn 2 PBND  ,các pháo đội đều được gởi đi thụ huấn tại Trường Pháo Binh QLVNCH tại Dục Mỹ, Nha Trang.

 

Khoá 1/74 SQ Đặc Biệt  Căn Bản Sĩ Quan Pháo Binh (Tại Trường Pháo Binh Dục Mỹ Ninh Hoà.) Khoá có 30  Sĩ Quan Nhẩy Dù – H́nh trích từ tài liệu [17]


Cuối tháng 11/1968 sau thời gian huấn luyện, TĐ2 PBND trực tiếp tham chiến với LĐ2 ND tại chiến trường Tây Ninh B́nh Long và Phước Long Quân Khu 3.

Doanh Trại Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù được di chuyển về đồn trú tại căn cứ Nguyễn Huệ, Long B́nh thuộc Tỉnh Biên Hoà.

Về tổ chức, Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù gồm có 4 Pháo Đội: Pháo Đội Chỉ Huy và 3 Pháo Đội Tác Xạ A2, B2 và C2.

Về phần trang bị: 3 Pháo đội Tác Xạ/Tiểu Đoàn 2 PBND được trang bị 18 khẩu đại bác 105 ly M102. Đặc điểm của loại súng đại bác 105ly M102 này là gọn, nhẹ, linh động, chịu đựng sức mạnh giật hậu, dể điều khiển. Thich hơp cho nhu cầu lưu động của Lực Lương Tổng Trừ Bị.

 

 

Đại bac 105 ly M102 - H́nh trích từ tài liệu [19]

Các vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù:

1. Thiếu tá Nguyễn Văn Tường.(01/07/1968 – 01/04/1971),

2. Thiếu tá Nguyễn Văn Lước (02/04/1971 – 30/09/1973),

3. Thiếu tá Nguyễn Ngọc Triệu (01/10/1973 –30/04/1975).

 

Số lần tuyên dương công trạng:

–Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù được 1 lần tuyên dương trước Quân Đội

–Hiệu kỳ được mang 3 bảng tuyên công màu Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.

Để thích ứng với đà lớn mạnh và hoạt động yểm trợ hỏa lực hữu hiệu cho SĐND, ngày 7/7/1968 (tháng 6 năm 1968 theo tài liệu ) , BCHPB/SĐND được thành lập bởi SVVT 2681/TTM/P.312/K của Bộ TTM QLVNCH, Vị Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn đầu tiên là Thiếu Tá (Trung Tá theo tài liệu [17] )  Huỳnh Long Phi.

Các Chỉ Huy Trưởng gồm :

Trung Tá Huỳnh Long Phi 1968-1971;

Trung Tá Nguyễn Văn Tường 1971-1975 . 

Sau đây là vài hàng về tiểu sử  Trung Tá Huỳnh Long Phi trích từ tài liệu [16]  :

ü  Tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, 18/06/54;

ü  23/5/1956, Đại Đội Trưởng Đại Đội Súng Cối Nhảy Dù;

ü  1958, Du học Hoa Kỳ khóa BOC–Survey tại Fort Sill;

ü  Ngày 01/12/1965, Thành lập Tiểu Đoàn Pháo Binh Nhảy Dù;

ü  Ngày 07/7/1968, Chỉ Huy Trưởng Pháo binh Sư Đoàn Nhảy Dù;

ü  Tháng 4/1971, học khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Ft Leavenworth, Hoa Kỳ;

ü  Ngày 14/7/1972, Tử nạn trực thăng tại mặt trận Hải Lăng, Quảng Trị được truy thăng đại tá.

 

Trung tá Huỳnh Long Phi - H́nh trích từ tài liệu [19]

Aucune description de photo disponible.

Tấm ảnh Cố Đại Tá Huỳnh Long Phi chụp khoảng năm 1965 khi vừa thành lập TĐPB/ND lúc đó Ông mang cấp bậc Th/Tá, cháu bé Ông bế trên tay là con gái lớn tên Huỳnh Phi Phượng, cháu mới 5 tuổi.- Trích từ tài liệu [18]

Aucune description de photo disponible.

Ảnh Trung Tá Huỳnh Long Phi chụp năm 1971 khi ông tham dự khoá đào tạo SQ cao cấp tại Mỹ (tấm ảnh do cô Huỳnh Phi Phượng lưu giữ) – Trích từ tài liệu [18]

Theo tài liệu [15] :

Nhiệm Vụ của Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn Nhảy Dù:

Thiết lập và điều hành Trung Tâm Phối Hợp Yểm Trợ Hoả Lực/SĐND;

Tham mưu và cố vấn cho vị Tư Lệnh về phương diện yểm trợ hoả lực cho các đơn vị Nhảy Dù đang tham chiến ;

Lập kế hoạch sử dụng và phối trí hoả lực yểm trợ khi hành quân ;

Trực tiếp điều động hoả lực yểm trợ khi các đơn vị hành quân chạm địch ;

Tham dự các buổi họp tại Trung Tâm Hành Quân Sư Đoàn;

Phối hợp với các Pḥng, Ban tham mưu để thi hành các chỉ thị của Tư Lệnh SĐND;

Tháp tùng với Tư Lệnh trong các chuyến thị sát mặt trận, quan sát, thăm viếng…

 

Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh

 

Huy hiệu Tiểu  Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù – H́nh trích từ tài liệu [17]

 

Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh khởi sự thành lập từ ngày 17/10/1968 tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, bởi SVVT số 2366/BTL/SĐND/–P3/HL ngày 7/10/1968 và được Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH chính thức chấp thuận vào ngày 1/01/1969 bởi SVVT số 2366/TTM/K ấn kư ngày 16/12/1968. Vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu tá Bùi Văn Châu và từ đây mỗi Tiểu Đoàn Pháo Binh sẽ yểm trợ trực tiếp cho một Lữ Đoàn Nhảy Dù.

Trong thời gian thành lập, Tiểu Đoàn 3 PBND được huấn luyện giai đoạn 1 từ ngày 07/10/1968 tại TTHL Quang Trung. Sau đó các Pháo Đội A3, B3 và C3 lần lược được gởi đi huấn luyện tại Trường Pháo Binh QLVNCH tại Dục Mỹ.

 

Doanh trại của Tiểu Đoàn 3 PBND toạ lạc trong căn cứ Ngô Xuân Soạn tại Tam Hiệp Biên Hoà. Nhiệm vụ của TĐ 3 PBND là Yểm trợ hành quân đến cấp Lữ Đoàn cho các đơn vị thuộc SĐND trên khắp 4 vùng chiến thuật theo nhu cầu do BTL/SĐND chỉ định.

Các vị Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy liên tiếp Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù:

1. Thiếu tá Bùi Văn Châu từ ngày 1/1/1969 bởi quyết định số 79/SDND/TQT ngày 6/1/1969; đến ngày 26/2/1971) bị VC bắt trong trận Hạ Lào, đồi 31,

2. Thiếu tá Nguyễn Văn Nghi từ ngày 06/03/1971 do QĐ số 108/SDND/TQT đến ngày 01/11/1973,

3. Thiếu tá Nguyễn Thành Công từ 02/11/1973 do QĐ số 4913 SDND/TQT đến ngày 22/09/1974),

4. Thiếu tá Nguyễn Văn Thông từ ngày23/09/1974 do QĐ số 4311/SDND/TQT đến tháng 30/4/1975).

Ngoài ra theo tài liệu [14] :  Tiểu Đoàn 3 PBND c̣n có các vị sĩ quan  chỉ huy sau đây :

Đại úy Bùi Đức Lạc Tiểu Đoàn Phó;
Trung úy Trần Văn Th́nh Pháo Đội A3;
Trung úy Phạm Văn Ơn Pháo Đội B3;
Trung úy Đào Văn Thương Pháo Đội C3;
Trung úy Nguyễn Văn Phong Pháo Đội CH3.

Trong tháng 4 năm 1969 ,Tiểu Đoàn 3 này xuất quân, yểm trợ trực tiếp cho LĐ3 ND tại Biệt Khu Thủ Đô,  hành quân ven đô. Lúc đó Đại tá Lê Văn Trang Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Biệt Khu Thủ Đô (BKTĐ).
Về tổ chức, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù gồm có 4 Pháo Đội: Pháo Đội Chỉ Huy và 3 Pháo Đội Tác Xạ A3, B3 và C3.

Về phần trang bị Tiểu Đoàn 3 PBND được trang bị 18 khẩu đại bác 105 ly M102.

Tuyên dương công trạng.

–Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù được 1 lần tuyên dương trước Quân Đội

–Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù được 1 lần tuyên dương trước Quân Đoàn.

Các Tiểu Đoàn Pháo Binh Nhảy Dù và các Pháo Đội của họ thường tháp tùng theo các Lữ Đoàn hoạt động trên khắp bốn vùng chiến thuật. như Tây Ninh, Cao Miên, Kontum, Hạ Lào, mùa hè đỏ lửa tại An Lộc, Kontum, Quảng Trị.

 Đôi khi các Pháo đội được tách ra để hoạt động hỏa yểm cho từng Tiểu Đoàn Nhảy Dù.

Tháng 4/1971, sau chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719, Trung tá Huỳnh Long Phi sang Hoa Kỳ du học, Trung tá Nguyễn Văn Tường được chỉ định thay thế chức vụ Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Nhảy Dù cho đến tháng 4/1975.

Theo tài liệu  [16] :

Chỉ Huy Trưởng :  Đại tá Nguyễn Văn Tường;

Tiểu Đ̣an 1 Pháo Binh Nhẩy Dù : Trung tá Nguyễn Bá Trí;

Tiểu Đ̣an 2 Pháo Binh Nhẩy Dù :  Thiếu tá Nguyễn Ngọc  Triệu;

Tiểu Đ̣an 3 Pháo Binh Nhẩy Dù   Thiếu tá Nguyễn Thông .

(Thời gian từ 26/10/1973–10/5/1974, Trung tá Nguyễn Văn Tường đi học khoá Tham Mưu, Trung tá Nguyễn Văn Lược XLTV [xử lư thường vụ] chức vụ Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Nhảy Dù).

BCH Pháo Binh Nhảy Dù đă tháp tùng với SĐND tham chiến hầu hết khắp các chiến trường trên 4 Quân Khu và ngoại biên (Cao Miên & Lào); hành quân bộ và luôn cả hành quân không vận, trực thăng vận. Tuy là đơn vị Yểm trợ nhưng Pháo Binh Nhảy Dù đă gây tổn thất đáng kể cho địch quân.

 

Không vận súng đại bác pháo binh Nhảy Dù trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719 năm 1971 -H́nh trích từ tài liệu [19]

 

Pháo Binh Nhảy Dù tại mặt trận Ha Lào năm 1971- H́nh trích từ tài liệu [19]

Pháo Binh Nhảy Dù trong chiến dịch Lôi Phong tháng 7 năm 1972 - H́nh trích từ tài liệu [19]

Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh Nhảy Dù

Theo tài liệu [15] : Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh được chính thức thành lập vào ngày 01/01/1975 tại trại Đào Văn Thọ trong căn cứ Hoàng Hoa Thám.

 Cũng như các đơn vị tân lập khác của SĐND, thành phần nhân sự được rút ra từ các đơn vị Pháo Binh hiện hữu trong SĐND rồi bổ sung thêm từ các tân binh mới tuyển mộ. Tính đến ngày 30/4/1975, TĐ4PBND đă hoàn tất việc thành lập và huấn luyện tại chổ cho 2 Pháo Đội tác xạ A4 & B4. Riêng Pháo Đội C4 chỉ mới vừa thành lập được thành phần nhân sự cho 2 khẩu đội do Trung úy Từ Văn Khánh phụ trách.

Các vị chỉ huy Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh Nhảy Dù sơ khởi gồm:

1. Thiếu tá Đặng Hữu Minh: Tiểu Đoàn Trưởng;

2. Thiếu tá Nguyễn Cẫn Ngọc: Tiểu Đoàn Phó kiêm Trưởng Ban 3;

3. Đại úy Nguyễn Văn Bê: Pháo Đội Trưởng Pháo Đội Chỉ Huy 4;

4. Đại úy Nguyễn Hữu Dưỡng Pháo Đội Trưởng Pháo Đội A4;

5. Đại úy Đàm Quang Nhẫn: Pháo Đội Trưởng Pháo Đội B4;

6. Trung úy Từ Văn Khánh: Pháo Đội Trưởng Pháo Đội C4;

Về tổ chức, Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh Nhảy Dù gồm có 4 Pháo Đội: Pháo Đội Chỉ Huy và 3 Pháo Đội Tác Xạ A4, B4 và C4.

Về phần trang bị Tiểu Đoàn 4 PBND được trang bị 18 khẩu đại bác 105 ly M102.

Đầu tháng 2/1975 tuy thành lập chưa hoàn tất, nhưng Tiểu Đoàn 4 PBND cũng đă ra quân để Yểm trợ cho Lữ Đoàn IV Nhảy Dù hành quân trong địa bàn Biệt Khu Thủ Đô.

 

Phụ đề 2 : Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến

Theo tài liệu [20] :

A. Đơn vị Pháo Binh đầu tiên của Thủy Quân Lục Chiến

Tiền thân :

Tiền thân của pháo đội Đại bác Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) là Đại Đội Trọng Pháo 106 Ly, đồn trú tại Hảng phân Mỹ Tho (ĐịnhTường), sau đó di chuyển đến làm doanh trại tại đảo B́nh Ba (Cam Ranh).

Hơn nửa theo tài liệu  [21] : Khởi thủy, cùng thời gian thành lập Tiểu Đoàn 2 TQLC  cuối năm 1955, Đại Đội Trọng Pháo 106 ly được thành lập, đồn trú tại Mỹ Tho, sau dời về đảo Bnh́ Ba trong Vịnh Cam Ranh.

Đại Úy Nguyễn Hải Đàng là người đầu tiên nhận lệnh thành lập đại đội trọng pháo TQLC nầy. Sau khi ông được bổn nhiệm làm Quận Trưởng quận Cần Giờ, Trung  Úy Nguyễn Vi Tân, đại đội phó lên thay thế.

Trong thời gian đại  đội súng cối 106 ly thành lập, Trung  Úy  Lục Quân Tôn Thất Soạn, đang học khóa vũ khí nặng 4’2 (106 ly) tại trường Vơ Bị Đà Lạt. Bộ Quốc Pḥng thuyên chuyển ông Soạn về TQLC sau khi măn khóa, và ông đă được đềcử giữ chức vụ Sĩ Quan Hành Quân & Huấn Luyện của đại đội nầy. Phần lớn nhân viên khẩu đội là những Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ được điều động từ Đại đội Giang Đĩnh ở Huế vừa bị giải thể. Trung  Úy Vơ Kĩnh, Trung Sĩ Nhất Trần Kim Tỷ, Trung Sĩ Nhất Lê Văn Ngưu là ba trung đội trưởng của 3 trung đội Tác Xạ.

Đến cuối năm 1957 Đại Đội Trọng Pháo 106 Ly TQLC di chuyển về trú đóng tại Cát Lái (Thủ Thiêm, Sài g̣n) và Đại Đội trưởng của đơn vị lúc bấy giờ là Trung  Úy Nguyễn Thành Yên.

H́nh thành :

Vào giữa năm 1961, đơn vị pháo binh đầu tiên của TQLC ra đời với danh hiệu : Pháo Đội Đại Bác TQLC (Pháo Đội Đại Bác 75 ly Sơn Pháo theo tài liệu  [18] ) .

Theo tài liệu [20] &  [21] :  Đại Đội Trọng Pháo 106 Ly đă bị giải thể ngay khi Pháo Đội Đại Bác TQLC được thành lập.

Khi nhận được lệnh thành lập Pháo Đội Đại Bác cho binh chủng, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn TQLC đă chỉ định Đại Úy Cao Văn Hinh (  sĩ quan thuyên-chuyển từ các đơn-vị pháo-binh Lục-quân) , Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2 đổ bộ (bộ binh ?) , làm Pháo Đội Trưởng của đơn vị tân lập nầy. Đây là đơn vị Pháo binh đầu tiên của binh chủng TQLC mà sau nầy nổi danh ở khắp các mặt trận trên 4 vùng chiến thuật .

Trước khi Pháo Đội Đại Bác TQLC h́nh thành, Bộ Tư Lệnh Hải Quân đă tham khảo với Bộ Chi Huy Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) về loại chiến cụ mới (sơn pháo 75 ly ṇng ngắn).Sơn pháo này mới đối với chiến trường Việt Nam và với quân đội VNCH, chứ không mới đối với quân đội đồng minh ở các chiến trường thời Đệ Nhị Thế Chiến và chiến tranh Triều Tiên.

Các chuyên viên ở Bộ Chi Huy Pháo Binh (BCH/PB)  cho biết : Thành phần chiến cụ, sự vận hành và kỷ thuật tác xạ của sơn pháo 75 ly ṇng ngắn (Howitzer), không khác ǵ loại dă pháo 105 ly và 155 ly ṇng ngắn, cho nên cần phải có những sĩ quan pháo binh chuyên nghiệp xử dụng mới được; Do đó Bộ Tư Lệnh Hăi Quân đă xin BCH/PB thuyên chuyển một số sĩ quan xuất thân từ trường Pháo Binh về TQLC.

Số sĩ quan pháo binh Lục Quân đầu tiên về tŕnh diện Liên Đoàn Trưởng LĐ/TQLC, Thiếu Tá Lê Nguyên Khang gồm có :

Ø  Trung Úy Đoàn Trọng Cảo, giữ chức vụ Pháo Đội Phó;

Ø  Chuẩn Úy Nguyễn Trọng Đạt : Sĩ Quan Tác Xạ;

Ø  Chuẩn Úy Nguyễn Tấn Lộc (Lộc Lớn ) : Trung Đội Trưởng Trung Đội 1;

Ø  Chuẩn Úy Nguyễn Tấn Lộc (Lộc Nhóc ) : Trung Đội Trưởng Trung Đội 2;

Ø  Chuẩn Úy Nguyễn Hữu Lạc : Sĩ Quan Địa H́nh;

Ø  Chuẩn Úy Trầm Hữu Phước và Chuẩn Úy Nguyễn Vĩnh Duyệt : Sĩ Quan Tiền Sát.

Những sĩ quan nầy là những cán bộ nồng cốt đầu tiên xây dựng và huấn luyện một đơn vị sau nầy nổi tiếng trên khắp các chiến trường về khả năng chuyên môn, cũng như về tri thức hiệu quả của những loại hỏa lực khác nhau. Bởi những yếu tố đó, Pháo Binh TQLC rất thành công trong những lần yểm trợ các cuộc hành quân thủy bộ.

Pháo Đội Đại Bác TQLC :

Theo bảng cấp số, Pháo Đội Đại Bác TQLC gồm có một Ban Chỉ Huy và 2 Trung đội Tác Xạ:

·        Ban Chỉ Huy Pháo Đội :

Ø  Ban Chỉ Huy : Sĩ Quan PĐT (Pháo Đội Trưởng), PĐP (Pháo Đội Phó) cùng một số Hạ Sĩ Quan (HSQ) và binh sĩ;

Ø  Ban Tác Xạ và Truyền Tin : Sĩ Quan & HSQ Tác Xạ, HSQ Truyền Tin cùng một số binh sĩ;

Ø  Ban Địa H́nh : Sĩ Quan & HSQ Địa H́nh cùng một số binh sĩ.

·        Trung Đội Tác Xạ :

Ø  Ban Chỉ Huy: Sĩ quan Trung Đội Trưởng, HSQ Trung Đội Phó, HSQ Tác Xạ, HSQ Truyền Tin cùng một số binh sĩ;

Ø  Khẩu đội: Mỗi trung đội tác xạ có 4 khẩuđôi, mỗi khẩu đội gồm có một HSQ khẩu đội trưởng và 7 binh-sĩ, trong đó có một tài xế. Khẩu đội được trang bị một xe Dodge 4x4, 1 khẩu sơn pháo 75 ly ṇng ngắn, và một số súng cá nhân.

 

Huấn Luyện :

Khi đến cơ quan MACV để lảnh súng, chúng tôi (tác giả tài liệu  [20] ) chỉ nhận được chiến cụ, c̣n sách hướng dẫn kỹ thuật phải chờ lảnh sau. Mọi người trong pháo đội, từ sĩ quan cho đến binh sĩ chưa từng có một ai trông thấy khẩu sơn pháo 75 ly bao giờ. Cho nên không ai có thể xử dụng những khẩu súng mới lảnh về.

Các sĩ quan trong pháo đội họp lại để nghiên cứu loại súng nầy, nhưng v́ không có sách kỹ thuật nên đành chịu thua. Các loại pháo dă chiến, khi chuyển từ vị thế đi đường sang vị thế tác xạ, người ta chỉ cần tháo súng khỏi xe kéo rồi banh càng ra là có thể bắn được; C̣n loại pháo nầy tuy có cùng một kỷ năng tác xạ , nhưng nó chỉ có một càng; Khi đi dường các bộ phận của súng được bó chặt với nhau bằng một niềng sắt, rồi móc vào xe kéo, nếu di chuyển trên 40 cây số th́ phải chở trên một chiếc xe Dodge 4x4; Nếu thủy vận th́ đặt trên trên những chiến đĩnh LCVP hay LCM. Loại súng nầy rất thuận tiện trong các cuộc hành quân ở vùng sông rạch. Khi muốn bắn th́ tháo niềng sắt ra, rồi ráp lại từng bộ phận vào vị thế tác xạ. Không một loại đại bác nào có thể tác xạ trong vị thế di chuyển cả, sơn pháo cũng không ngoại lệ .

May mắn thay, trong Trung Đội 2 của Chuẩn Úy Lộc nhóc có ông Thượng Sĩ già, thường vụ trung đội, đă từng bắn qua loại súng nầy. Khi c̣n phục vụ trong quân đội Liên Hiệp Pháp, ông đă từng làm khẩu đội trưởng một khẩu đội sơn pháo. Ông không có mặt tại đơn vị, khi pháo đội lảnh súng về v́ ông đang nghỉ phép. Khi biết ông Thượng Sĩ thường ụ đă xử dụng qua loại súng nầy, Chuẩn Úy Lộc hỏi ông c̣n nhớ ǵ về loại đại  bác 75 ly không, th́ ông trả lời: ’’Tôi chỉ có thể hướng dẩn cho anh em binh sĩ tháo ráp, c̣n các việc khác ngoài khả năng của tôi.’’ Được như vậy là đă quá đủ cho anh chàng Lộc nhóc. Anh rất mừng, v́ khi súng đă ở vào vị thế tác xạ, anh có thể quan sát sự vận hành của súng, và sẽ hiểu kỷ năng tác xạ của nó như thế nào. Sau khi ông Thượng Sĩ hướng dẫn cho binh sĩ ráp súng từ vịthế đi đường sang vị thế tác xạ, Chuẩn Úy Lộc vặn thử tay quay chiều cao và tay quay chiều hướng của súng; Anh nhận thấy rằng: Sự vận hành của sơn pháo cũng giống sự vận hành của dă pháo. Kế tiếp anh quan sát bộ máy nhắm của súng, rồi cho gắn vào đế và đích thân nhắm thử. Anh thấy máy nhắm của sơn pháo 75 ly có nhiều điểm giống như máy nhắm của dă pháo 155 ly; Cho nên anh quyết định cho thiết lập xạ bảng giống như xạ bảng cảu súng 155 ly.

Hôm sau anh tŕnh bày những ǵ mà anh em binh sĩ trong trung đội của anh đă làm được với loại súng đại  bác 75 ly; Anh cũng thuyết tŕnh những nhận định của anh về bộ máy nhắm của súng 75 ly nầy. Anh báo cáo lên Pháo Đội Trưởng cùng các sĩ quan trong pháo đội là anh đă cho thiết lập xạ bảng giống như xạ-bảng của súng 155 ly ṇng ngắn, và xin quyết định. Sau một hồi bàn thảo, nghiên cứu; tất cả các sĩ quan trong pháo đội đều đồng ư thiết lập xạ bảng như Trung Đội 2 đề nghị để cho toàn thể pháo-đội thi-hành trong thời-gian huấn-luyện và hành-quân sau nầy. Pháo Binh Thủy Quân Lục Chiến xử dụng loại xạ bảng nầy (Xạ bảng được thiết lập như của súng 155 mm (ly) ṇng ngắn, độ giạt cắm cọc đồngnhất là 2400 ly giác) để bắn vào địch quân trong những lần yểm trợ cho các đơn vị tác chiến. Khi pháo-binh TQLC được nâng lên cấp tiểu đoàn, các pháo đội 75 ly sơn pháo (Pháo Đội A& Pháo Đội B của Tiểu Đoàn PB-TQLC) vẫn xài loại xạ bảng nầy cho đến khi nhận được sách hướng-dẫn kỹ thuật mới thôi. Theo sách hướng dẫn kỹ thuật th́ độ giạt cắm cọc đồng nhất cho sơn-pháo 75 ly là 2800 ly giác giống như của dă  pháo 105 ly ṇng ngắn .

Với sự hiểu biết về chuyên môn khi theo học ở trường Pháo Binh QLVNCH, và những kinh nghiệm thu thập được khi c̣n phục vụ tại những đơn vị Pháo Binh Lục Quân, các sĩ quan trong pháo đội đă huấn  luyện cho đơn vị đạt được trên 80% yêu cầu về Chiến  Thuật, Tác Xạ Đại Cương, Địa H́nh và những yêu cầu khác, để chứng tỏ rằng đơn vị Pháo Binh đầu tiên của binh chủng TQLC đă có đủ khả năng hành quân tác chiến và yểm

trợ:

Đơn vị sẳn sàng xuất quân :

Sau khi vượt qua được cuôc khảo hạch cuối cùng, đơn vị đă tác xạ biểu diễn cho vị Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh QLVNCH, vị Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn III , và một số sĩ quan pháo binh Lục Quân khác; vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn cùng một số sĩ quan  tham mưu & tác chiến TQLC cũng có mặt trong cuộc biểu diễn. Ngoài những tác  xạ thông thường, Trung Đội 2 đă bắn biểu diễn một tác xạ đặc biệt; bắn TOT từ một khẩu súng đại bác: Một khẩu đại bác bắn 2 quả đạn không cùng lúc vào một mục tiêu; nhưng 2 quả đạn ấy phải nổ trên mục tiêu cùng một lúc. Khẩu Đội 2/TĐ2/ PĐĐB/TQLC đă thâu đạt kết quả mỹ măn. Sau tác xạ trên vị CHT/PB/QLVNCH và những sĩ quan khác đă nhiệt liệt ngợi khen đơn vị paho1 binh đầu tiên (PĐĐB/TQLC) của binh chủng TQLC.

 

B. Tiểu Đoàn Pháo Binh Thủy Quân Lục Chiến

Khi Tiểu Đoàn 4 TQLC ra đời, Pháo Binh TQLC cũng được nâng lên cấp Tiểu Đoàn với danh hiệu : Tiểu Đoàn Pháo Binh TQLC gồm : 1 pháo đội Chỉ Huy & Công Vụ & 2 pháo đội sơn pháo 75 ly ṇng ngắn (PĐA& PĐB), PĐA  là thối  thân của Pháo Đội Đại Bác/TQLC, PĐB là một pháo đội tân lập & 1 pháo đội dă  pháo 105 ly ṇng ngắn, tân lập (PĐC).

Tiểu Đoàn Pháo Binh/TQLC là tiền thân của Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh TQLC sau nầy.

Vị Tiểu Đoàn Trưởng của TĐPB/TQLC là Đại Úy Nguyễn Văn Trước, Đại Úy Cao Văn Thinh, Tiểu Đoàn Phó, Trung  Úy Đoàn Trọng  Cảo Pháo Đội Trưởng PĐA (8 khẩu sơn pháo 75 ly), Trung  Úy Nguyễn Tấn Lộc. Pháo  Đội Trưởng PĐB (8 khẩu sơn pháo 75 ly), Trung  Úy Nguyễn Hồ Qú, mới thuyên chuyển từ một đơn vị pháo binh Lục Quân, Pháo Đội Trưởng PDC (8 khẩu dă pháo 105 ly).

Hơn nửa theo tài liệu  [21] :

Đầu năm 1962, Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh TQLC được h́nh thành với 2 Pháo Đội 75 ly và 1 Pháo Đội 105 ly ṇng ngắn do Đại Úy Nguyễn Văn Trước làm Tiểu Đoàn Trưởng  và Đại Úy Cao Văn Thinh làm Tiểu Đoàn Trưởng Phó. Các Trung Úy Đoàn Trọng Cảo coi Pháo Đội A/75 ly, Trung Úy  Nguyễn Hửu Hạnh Pháo Đội B/75 ly, Trung Úy  Nguyễn Hồ Qú Pháo Đội C/105 ly.

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Lôi Hỏa TQLC- H́nh trích từ tài liệu [22] 

Theo cấp số tiên khởi mỗi pháo đội trang bị 8 khẩu đại bác; Sau nầy v́ nhu cầu chiến trận, PĐB 75 ly sơn pháo được cải biến thành một pháo đội 105 ly dă pháo. Kể từ đó TĐPB/TQLC có một pháo đội sơn pháo (PĐA), 2 pháo đội dă pháo (PĐB & PĐC). Sau khi có sách kỹ thuật. Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Trước Tiểu Đoàn PB/TQLC quyết định PĐA/75 ly phải sửa xạ bảng đúng như sách kỹ thuật, nghĩa là phải thiết lập xạ bảng như xạ bảng của súng 105 ly ṇng ngắn với độ giạt cắm cọc đồng nhất là 2800 ly giác, không c̣n là 2400 ly giác nữa.

 

C-Chiến Đoàn Đặc Nhiệm (Task Force)

Sĩ Quan Tiền Sát và các toán Liên Lạc Pháo Binh :

Theo tài liệu [23] :  

Để đạt được kết quả hữu hiệu trong những cuôc hành quân, về mặt chiến thuật,từ năm 1964 , Lữ Đoàn TQLC chia thành 2 Chiến Đoàn đặc nhiệm : Chiến đoàn An Dương Vương và chiến  đoàn Bắc B́nh Vương. Mỗi khi xung trận, một chiến đoàn được kết hợp từ 2 đến 3 tiểu đoàn tác chiến và 1 pháo đội đại bác 75 ly hoặc 105 ly; Có khi là một pháo đội hổn hợp 105 ly & 75 ly cơ hữu. Khi cần, có thể xin tăng cường hỏa lực từ những đơn vị pháo binh Lục Quân có thể bắn tới những mục tiêu trong vùng trách nhiệm của chiến đoàn. Theo bảng cấp số, mỗi đại đội tác chiến được tang phái một toán Tiền Sát Viên Pháo Binh (Đềlô) để điều chỉnh tác xạ vào những mục tiêu cần thiết; Một sĩ quan liên lạc được đề cử đi cạnh vị tiểu đoàn trưởng Bộ Binh để phối hợp và điều động các toán tiền sát viên.

Trên cấp tiểu đoàn là chiến đoàn, cũng có một Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh (SQLL/PB) , do một sĩ quan cấp Đại Úy đảm nhiệm, nhưng v́ thiếu sĩ quan nên thường do một Trung Úy hoặc do một Thiếu Úy thâm niên phụ trách. Toán SQLL/PB được đặt cạnh Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn đặc nhiệm để thiết lập kế hoạch yểm trợ hỏa lực cho những đơn vị của chiến đoàn, vẽ phóng đồ hỏa yểm. Kế hoạch hỏa yểm  là bản hoạch định phương thức xử dụng một cách có hiệu quả : Pháo yểm, không yểm và hải pháo.

Vị SQLL/PB chiến đoàn có nhiệm vụ chỉ huy và điều động các toán LL/PB ở cấp tiểu đoàn, cùng những toán tiền sát ở cấp đại đội tác chiến. Ông phải cập  nhật vị trí đóng quân của những đơn vị đang hành quân trong khu vực trách niệm của chiến đoàn như: Vị trí của từng tiểu đoàn tác chiến, vị trí chiếm đóng của những đơn vị pháo binh cơ hữu và tăngphái. Ngoài ra ông c̣n phải liên lạc với những đơn vị Pháo Binh bạn để xin tăng cường hỏa lực cho các đơn vị PB cơ hữu khi cần. Đôi khi pháo binh Thủy Bộ cũng tăng cựng hỏa lực cho các đơn vị PB bạn, khi họ cần có thêm hỏa lực để yểm trợ cho những đơn vị Bộ Binh/ Lục Quân đang chạm địch nặng. Khi nhận được đơn xin tácxạ tăngcường, ông chuyển những đơn xin ấy, cùng những yếu tố cần thiết đến các đơn vị PB/ TQLC trong tầm, và ra lệnh cho họ thi hành.

Đềlô Cao Cấp :

Trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm 1968, quân đội VNCH rất thiếu thốn những tiếp liệu phẩm cho nhu cầu chiến đấu như: Phương tiện Truyền Tin, phương tiện Giao Thông, Hăi Vận Hạm, Vận Tải Cơ, Chiến Đấu Cơ, nhất là Trực Thăng Chỉ Huy (C&C) vân..vân.. cho nên các đơn vị trưởng từ cấp Trung Đoàn trở xuống khi đi hành quân đều phải lội bộ. Khi xua quân tiến đánh các mục tiêu, quí vị Chiến Đoàn Trưởng thường tấn kích bằng 2 cánh. Vị Chiến Đoàn Trưởng/TQLC thường lội bộ với cánh quân chịu trách nhiệm làm nổ lực chính. Toàn bộ tham mưu Chiến Đoàn (CĐ) và toán SQLL/PB cũng đều phải đi bộ như ông, không khác ǵ những binh sĩ tiền tiêu.

 Khi PB/TQLC được nâng lên cấp Tiểu Đoàn vấn đề nhân sự là điều nan giải cho ông Tiểu Đoàn Trưởng TĐ/PBTQLC. V́ sự bành trướng quá nhanh đó, Tiểu Đoàn Pháo Binh không đủ sĩ quan để cung cấp Đềlô cho các tiểu đoàn đổ-bộ; V́ vậy TĐ/PBTQLC chỉ có thể cung cấp cho mỗi tiểu đoàn tác chiến 2 toán tiền sát pháo-binh mà thôi, trong đó có một vị kiêmnhiệm chức-vụ SQLL/PB cấp tiểu đoàn. Nhiệm vụ của toán LL/PB cấp liên đoàn rất quan trọng nên vị sĩ quan LL/PB ở cấp nầy không thể thiếu được. Như trên đă nói, ngựi SQLL/PB cấp chiến đoàn cũng phải lội bộ như những người Đềlô khác ở cấp Đại Đội, nên anh em thường gọi đùa vị sỉ quan liên-lạc PháoB inh cấp liên đoàn là Đềlô Cao Cấp. Người viết (tác giả tài liệu [20] ) cũng là một trong những nguời Đềlô Cao Cấp của các Chiến Đoàn Đặc Nhiệm  An Dương Vương và Bắc B́nh Vương.


D. Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến

Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (PBSĐ TQLC) :

Khi binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được nâng lên cấp Sư Đoàn, với 3 Lữ Đoàn Thủy Bộ, và tách rời khỏi quân chủng Hải Quân th́ Pháo Bbinh Mủ Xanh cũng được tăng lên đến 3 tiểu đoàn để yểm trợ trực tiếp cho 3 lữ đoàn thủy quân lục chiến tân lập.

Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn TQLC cũng đă được thành lập cùng lúc với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Thiếu Tá Nguyễn Văn Trước nguyên Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn PB  TQLC, được đề cử làm Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh của Sư Đoàn TQLC.

Ba tiểu đoàn pháo binh được mang danh hiệu TĐ1PB/TQLC, TĐ2PB/TQLC và TĐ3PB/TQLC.

Ø  TĐ1PB/TQLC là thối thân của tiểu đoàn PB TQLC, hay nói một cách khác : Kể từ ngày thành lập Pháo Binh Sư Đoàn th́ TĐPB/TQLC được cải danh là TĐ1PB/TQLC  mà Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Đoàn Trọng Cảo;

Ø  Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2PB/TQLC là Đại Úy Nguyễn Hồ Qú;

Ø  Sau khi 2 tiểu đoàn pháo binh đầu tiên của Sư Đoàn TQLC h́nh thành được một năm, th́ TĐ3PB/TQLC do Đại Úy Trần Thiện Hiệu chỉ huy ra đời (1970).

 

Hơn nửa theo tài liệu [21] : Đầu năm 1962, Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh TQLC được h́nh thành với 2 Pháo Đội 75 ly và 1 Pháo Đội 105 ly ṇng ngắn do Đại Úy Nguyễn Văn Trước làm Tiểu Đoàn Trưởng  và Đại Úy Cao Văn Thinh làm Tiểu Đoàn Trưởng Phó. Các Trung Úy Đoàn Trọng Cảo coi Pháo Đội A/75 ly, Trung Úy  Nguyễn Hửu Hạnh Pháo Đội B/75 ly, Trung Úy  Nguyễn Hồ Qú Pháo Đội C/105 ly.

Huy hiệu Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Lôi Hỏa TQLC- H́nh trích từ tài liệu [22] 

Theo tài liệu  [21] : Đầu năm 1969, Tiểu Đoàn Pháo Binh thứ 2 được thành lập cùng với Ban Chỉ Huy Sư Đoàn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Trước lên làm Chỉ Huy Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh là Đại Úy Đoàn Trọng Cảo, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2 là Đại Úy Nguyễn Hồ Quỳ.

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Thần Tiển TQLC- H́nh trích từ tài liệu [22] 

Sau đó vào năm 1970, Tiểu Đoàn 3  Pháo Binh được thành lập với Đại Úy Trần Thiện Hiệu làm Tiểu Đoàn Trưởng .

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nỏ Thần TQLC- H́nh trích từ tài liệu [22] 

Từ khi Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn được thành lập, tất cả súng đại bác của những tiểu đoàn pháo binh TQLC đều là loại dă pháo 105 ly ṇng ngắn. Những khẩu sơn pháo 75 ly cổ lổ đă bị đào thải. Các pháo đội TQLC không c̣n được trang bị mỗi pháo đội 8 đại bác nữa; mà bây giờ bảng cấp số của pháo binh TQLC cũng giống bảng cấp số của các đơn vị pháo binh Lục Quân, nghĩa là mỗi pháo đội chỉ có 6 khẩu đội mà thôi, và mỗi pháo đội có 3 trung đội tác xạ. Nhiệm vụ của BCH/PBSĐ là điều ḥa quân số giữa các tiểuđoàn pháo binh trực thuộc, BCH/PBSĐ cũng có thể điều động các đơn vị pháo cơ hữu để thích ứng với t́nh h́nh chiến thuật khi cần.

Để thống nhất chỉ huy & liên lạc và điều hành 3 tiểu đoàn pháo nói trên, Bộ Chỉ Huy Pháo binh Sư Đoàn cũng đă thành lập một Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực (TTPHHL) bên cạnh Trung-tâm Hành Quân của Sư Đoàn. Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực Sư Đoàn có nhiệm vụ theo dơi sự di chuyển và phối- rí của các đơn vị pháo binh TQLC đang lâm chiến, kiểm soát kế hoạch hỏa yểm của các TTPHHL cấp Lữ Đoàn. Cập nhật tất cả các vị trí đóng quân của những đơn vị bộ chiến cũng như của những đơn vị pháo binh trực thuộc và tang phái. Nếu hành quân cấp Sư Đoàn th́ TTPHHL/PBSĐ phải soạn-thảo kế hoạch hỏa yểm cho khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn; phối hợp Hải, Lục, Không hỏa yểm cho những đơn vị tác chiến thống thuộc Sư Đoàn TQLC. Điều động các đơn vị pháo binh cơ hữu và tang phái.

Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực cấp Lữ Đoàn :

nâng lên cấp Sư Đoàn th́ những Chiến Đoàn Đặc Nhiệm được giải tán, thay vào đó là những Lữ Đoàn Thủy Bộ. Những toán Đềlô Cao Cấp (SQLL/PB) được hủy bỏ khi các Chiến Đoàn Đặc Nhiệm bị triệt  tiêu. Mỗi Lữ Đoàn được một tiểu đoàn pháo binh yểm trợ trực tiếp. Tại Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn có một Trung Tâm Hành Quân (TTHQ) ; Cạnh TTHQ Lữ Đoàn có một Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực, do tiểu đoàn pháo binh YTTT thiết lập để lo về hỏa yểm với quyền hạn rộng lớn hơn các toán SQLL/PB cấp chiến đoàn. Ngoài nhiệm vụ vẽ hỏa đồ, và soạn thảo kế hoạch hỏa yểm cho khu vực hành quân của Lữ Đoàn, vị Trung Tâm Trưởng TTPHHL/LĐ có quyền điều động các đơn vị pháo binh cơ hữu và tang phái, một quyền hạn mà những sĩ quan Liên Lạc Chiến Đoàn (Đềlô Cao Cấp) không có.

Theo tài liệu  [21] : Đầu năm 1975, cùng với sự thành lập Lữ Đoàn 468, Pháo Đội P dă pháo 105 ly (Tiểu đoàn 4 Pháo Binh) được thành lập với Đại Úy Nguyễn Văn Vinh làm Pháo Đội Trưởng. Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh sau cùng là Trung Tá Nguyễn Trọng Đạt và Tiểu Đoàn  Tiểu Đoàn  3 Pháo Binh  là Thiếu  Tá Nguyễn Tấn Lộc .

Xin ghi thêm vài hàng về Trung Tá Đặng Bá Đạt  Chỉ Huy Pháo Binh TQLC 1975 trích từ tài liệu [24] & [25] : 

Trung Tá Đặng Bá Đạt tốt nghiệp khóa 6 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, ngành Pháo Binh,Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh  năm 1957-1958.

Năm 1963, Sĩ Quan Đạt  được thuyên chuyển về Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Sĩ Quan  Đạt  lúc c̣n là  Trung Úy đă từng chỉ huy pháo đội C , điểm hội tụ của hầu hết cao thủ Mũ Xanh, sau này  các sĩ quan  này đều giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng.

Và lúc c̣n  mang cấp  bực Đại Úy, Sĩ Quan  Đạt  là pháo thủ ưu ái của Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục chiến.

Năm 1970, Sĩ Quan Đạt là Thiếu tá, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Thủy Quân Lục Chiến.

Năm 1971, trận Hạ Lào gây tổn thất nặng cho cả 2 bên, điều đáng mừng là các sĩ quan dưới quyền Sĩ Quan  Đạt đều trở về lành lặn. Lần đó, Sĩ Quan Đạt được gắn huy chương “ Bảo quốc Huân Chương với nhành Dương Liễu”.

Vào cuối tháng Ba, năm 1972,  Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến  với Trung Tá Nguyễn Năng Bảo, lữ đoàn trưởng 147   và Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh  của  Thiếu Tá  Đạt vào căn cứ Mai Lộc.

H́nh trích từ tài liệu [24] 

Rồi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, sau một năm chuẩn bị, mùa mưa vừa chấm dứt, quân cộng sản Bắc Việt tập trung trên một quân đoàn, hơn 30 ngàn quân gồm cả 5 trung đoàn pháo  binh và 5 trung đoàn chiến xa, vượt vĩ tuyến 17 tấn công vào Quảng Trị.

Quân Bắc Việt  đă mở một cuộc tấn công toàn diện vào Quảng Trị. Phía Bắc, các căn cứ tiền đồn Nam Khu Phi Quân sự đều bị pháo kích nặng. Phía Tây, vùng trách nhiệm của Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến cũng bị pháo kích, kể cả những tiền đồn và căn cứ Mai Lộc bản doanh của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn.

Trung Đoàn 56 Bộ Binh ở căn cứ Carroll đă hàng địch, căn cứ Mai Lộc bị áp lực nặng nề, một Tiểu Đoàn 7 tăng cường làm sao chặn được cả sư đoàn Cộng quân?

Ngày 3 tháng 4 năm 1972, Lữ Đoàn 147  triệt thoái khỏi căn cứ Mai Lộc. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn không liên lạc trực tiếp được với Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh. V́ phải băng rừng vượt suối để về Ái Tử, Tiểu Đoàn2 Pháo Binh đă phải ra lệnh phá hủy một số khẩu pháo và xe pháo để chiến cụ không rơi vào tay địch.

Sau đó, Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh và Lữ Đoàn 147 gồm Tiểu Đoàn 4 và Tiểu Đoàn 8   về Huế dưỡng quân và tái trang bị và bổ sung quân số.

Nghĩ dưỡng quân chưa được 2 tuần,ngày 22 tháng Tư, Lữ Đoàn 147 cùng các Tiểu Đoàn 4 và  8 đă được bổ sung và tái trang bị sẽ ra Ái Tử thay thế Lữ Đoàn 258. Thiếu tá Đạt , mặc dầu đang nghỉ dưỡng quân, t́nh nguyện đi  theo Lữ Đoàn 147 với Trung Tá Nguyễn Năng Bảo v́  Tiểu đoàn 2 Pháo binh đă được  tái trang bị đầy đủ khi nhận 18 khẩu 105 từ Okinawa chở đến Phú Bài  và xe pháo đầy đủ.

Đến lúc nghe tin Quân Ta đă cắm cờ trên Cổ Thành Quảng Trị, Sĩ Quan Đạt được đặc cách thăng cấp Trung Tá tại mặt trận .

Năm 1974, Trung Tá Đặng Bá Đạt được đề cử giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Nhưng thời thế dâu bể khó lường ! T́nh h́nh chính trị thế giới xoay chiều, Miền Nam tự do không c̣n nhận được hỗ trợ từ Đồng Minh nên đành thất thủ.

Một tháng trước ngày mất nước, vào tháng 3 năm 1975,  Trung Tá Đạt đă ra lệnh  hủy chiến cụ của  3 Tiểu Đoàn Pháo binh Thủy Quân Lục Chiến ở vùng 1 chiến thuật.

Sau ngày mất nước tan hàng 30 tháng 4 năm 1975, Trung Tá Đặng Bá Đạt  bị tù cải tạo cộng sản.

Đến năm 1991, Trung Tá Đặng Bá Đạt  cùng gia đ́nh đến Mỹ, đất nước của Tự Do .

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://linhvnch.wordpress.com/phao-binh-vnch/ -Pháo Binh VNCH .

2.     https://dongsongcu.wordpress.com/2023/07/23/truongphao-binh-nhung-ngay-dau-nguyen-my-quang/ ḍng sông cũ Trường Pháo Binh , Những Ngày Đầu… – Nguyễn Mỹ Quang -Posted on July 23,2023 by dongsongcu .

3.     https://www.nhayduwdc.org/ls/qlvnch/qt/td/2019/ndwdc_ls_qlvnch_qt_td_tsTSQTBTD_2019JUL24_wed.htm Tiểu Sử Trường Bộ Binh Thủ Đức – QLVNCH .

4.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_binh_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Trường Bộ Binh Thủ Đức.

5.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa .

6.     https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/3723-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh-c%C3%B4ng-binh-chi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BA%A5u-vnch-ph%E1%BA%A1m-v%C4%A9nh-ninh-1949-%E2%80%93-3-1975 Người Lính Công Binh Chiến Đấu VNCH- Phạm Vĩnh Ninh (1949- 3/1975) - 08-18-2012 -LNTH .

7.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_Bi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%99ng_qu%C3%A2n_D%E1%BB%A5c_M%E1%BB%B9 Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ .

8.     http://bietdongquan.org/munau8/so28/truongducmy.htm Ḷ Luyện Thép cuả BĐQ Nhật Hồng Nguyễn-Thanh-Vân.

9.     https://ducmyblog.blogspot.com/2009/12/duc-my-qua-khu-oai-hung-duc-my-truoc.html Dục Mỹ - Quá Khứ Oai Hùng - 5/12/09 - Dũng-trọc Saigon, 03/12/2009.

10.  https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/nguyen-huu-nhan-va-chuyen-noi-nao-co-phao-binh-noi-do-dich-quan-phai-khiep-so/ Nguyễn Hữu Nhân và chuyện ‘nơi nào có Pháo Binh, nơi đó địch quân phải khiếp sợ’ July 18, 2020 -Last update: August 1, 2020 - Văn Lan/Người Việt .

11.  https://vi.wikipedia.org/wiki/Binh_ch%E1%BB%A7ng_Ph%C3%A1o_binh_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Binh chủng Pháo Binh Việt Nam Cộng Ḥa .

12.  https://nhayduwdc.org/st/hhqlvnch/hhpb/ndwdc_st_hhqlvnch_hh_pbqlvnch_2013AUG24.htm Huy Hiệu Binh Chủng Pháo Binh QLVNCH - Chào mừng Quư Độc giả và Quư Pháo Thủ QLVNCH Gia Đ́nh Mũ Đỏ Việt Nam -Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận .

13.  https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975).

14.  Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa của việt cộng Mậu Thân 1968-Khối Quân Sử-Pḥng 5-Bộ Tổng Tham Mưu-Tháng 8, năm 1968.

15.  https://dongsongcu.wordpress.com/2025/06/14/bo-chi-huy-phaobinh-su-doan-nhay-du-quan-luc-vnch/ Bộ ChỈ Huy Pháo Binh Sư Đoàn Nhảy Dù Quân Lực VNCH- Posted on June 14, 2025 by dongsongcu - Trích đăng từ trang nhà: https://vnchtoday.blogspot.com/

16.  https://bienxua.wordpress.com/2016/10/28/bo-chi-huy-phao-binh-su-doan-nhay-du/

Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn Nhảy Dù - Vơ Trung Tín - Posted by bienxua on October 28, 2016 .

17.  http://nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/PhaoBinhSDND.htm Tiểu Sử Pháo Binh Sư Đoàn Nhẩy Dù -  Bùi Đức Lạc.

18.  https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1061867310594609&id=655282987919712&set=a.669333159848028 Hội Cựu Quân Nhân Binh Chủng Nhảy Dù Quân Lực VNCH 9 septembre 2016- Tiểu Sử Pháo Binh Sư Đoàn Nhảy Dù.

19.  https://nhayduwdc.org/ls/qsnd/2015/ndwdc_ls_qsnd_2015_bcnd20nChiensu_A_tochuc_2015APR23.htm#C06 Quân Sử Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH .

20.  http://tqlcvn.org/chiensu/cs-phaobinh.htm  Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Thủy Quân Lục Chiến Pháo Binh TQLC - Đềlô Cao Cấp-  Xứ Ngàn xanh đầu Xuân 2000.

21.  https://vnchtoday.blogspot.com/2020/12/binh-chung-thuy-quan-luc-chien.html Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến  -  Mũ Xanh Trần Văn Hiển- Cựu Trung Tá Trưởng Pḥng 3/SĐ/TQLC - December 4, 2020 .

22.  https://nhayduwdc.org/st/hhqlvnch/hhtqlc/ndwdc_st_hhqlvnch_hhtqlc_2017MAY06.htm#HH Huy Hiệu Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến .

23.  http://s113345672.onlinehome.us/sudoan_tqlcvn/tqlc_mekong.htm Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam - Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến .

24.  https://ongvove.wordpress.com/2012/02/24/phao-binh-th%E1%BB%A7y-quan-l%E1%BB%A5c-chi%E1%BA%BFn-va-tr%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3ng-tr%E1%BB%8B-1972/ Pháo Binh Thủy Quân Lục Chiến và trận Quảng Trị 1972 .

25.  https://baovecovang2012.wordpress.com/2020/11/03/truong-trung-hoc-8/2/

TM – Trường Trung Học Phổ Thông và Tổng Hợp ở Sái g̣n – Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 (8…11) - Trường Gia Long - Posted on November 3, 2020 by Lê Thy.

 

16- Trường Truyền Tin – Thủ Đức-Tỉnh Gia Định & Vũng Tàu

Bài này gồm có hai phần :

Phần 1: Trường Truyền Tin

Phần 2 : Binh Chủng Truyền Tin

 

Phần 1: Trường Truyền Tin

Theo tài liệu [1] & [2] : Trường Truyền Tin  toạ lạc tại Vũng Tàu , là một cơ sở có nhiệm vụ hỗ trợ cho Quân Đội nói chung và Cục Truyền Tin nói riêng, đặc trách về việc đào tạo các lớp căn bản chuyên môn, các lớp bổ túc cho các thành phần Binh Sĩ, Hạ Sĩ Quan và Sĩ Quan trong ngành Truyền Tin của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Khẩu hiệu  của Trường Truyền Tin : Mau Chóng-Bảo Đảm .

Theo tài liệu [2] : Trường Truyền Tin Vũng Tàu  được thành lập vào năm 1965.

Tuy nhiên ,năm 1965 này cần phải xác định lại.

Thật vậy  theo tài liệu  [3] : Năm 1955 các Trung Tâm Huấn Luyện Kỹ thuật Truyền Tin tại các Quân Khu (CITR) giải tán và gôm lại thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Truyền Tin  Vũng Tàu để huấn luyện cho tất cả Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ thuộc ngành Truyền Tin  về phần Thiết Trí và Xử Dung các máy Truyền Tin . Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trường là Thiếu Tá Nguyễn Đ́nh Tải.

Cũng kể từ năm 1955 ,Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức đổi danh thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, Khoa Truyền Tin đổi thành Trường Truyền Tin LTVK/TĐ tiếp tục lo việc huấn luyện Sĩ Quan Căn Bản Truyền Tin   và các chuyên viên Sửa Chữa các máy Truyền Tin.

Theo tài liệu  [4] : Vào đầu năm 1957 (cuối tháng 2 năm 1957 theo tài liệu  [5] ), Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tái hoạt động được đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm có 8 quân trường  trong đó có Trường Truyền Tin.

Thời gian đào tạo sĩ quan Truyền Tin tại  Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức  là 38 tuần .

Từ năm 1955 đến năm 1961, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức đă cung cấp 95% cán bộ Truyền Tin.

Và vào khoàng năm 1961 ,Trường Truyền Tin  Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức được di chuyển xuống Vũng Tàu. Trung Tâm Huấn Luyện Truyền Tin Vũng Tàu  bị giải tán.

V́ lư do trên, người ta có thể viết rằng Trường Truyền Tin  Vũng Tàu ghi trong tài liệu [2]  là hậu thân của Trung Tâm Huấn Luyện Truyền Tin Vũng Tầu và Trường Truyền Tin Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức ở Thủ Đức-Gia Định.

Trong tài liệu [6] , Facebooker Bao Huynh viết : Đại Tá Vũ Duy Tạo là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Nghành Truyền Tin (Phụ chú : Năm nào không rơ) . Sau đó ông đă trở thành Thị Trưởng thành phố Vũng Tàu đến  ngày 30/04/1975 .

 

Sau đây là vài sơ lược  về Trường Truyền Tin Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức cho đến năm 1961  trích từ tài liệu [7]

 

Đại tá Nguyễn-Huy Hùng - Ảnh chụp tại Sài G̣n vào đầu năm 1969 -  Tác giả tài liệu [7]

‘’Năm 1949,  Tôi (Nguyễn Huy Hùng-tác giả tài liệu [7] )  tốt nghiệp thiếu úy khóa sĩ quan đầu tiên của Trường Vơ bị Quốc gia (cùng với anh Nguyễn Khương).

Giữa tháng 9 năm 1950, Anh Khương và Tôi đi học Truyền Tin ở Trường Truyền Tin Montargis (cách thủ đô ánh sáng Paris chừng 2 giờ xe lửa, về phía Nam) .

Tháng 6 năm 1951, Tôi măn khóa học Truyền Tin. Về tới Sài G̣n, Tôi tới tŕnh diện Bộ Quốc pḥng Việt Nam, gặp Trung tá Nguyễn văn Vận ,Đổng Lư Văn Pḥng của Bộ Trưởng Quốc Pḥng (sau này là Thiếu tướng Tư lệnh Quân khu 3 tại Hà Nội), và Tôi được Trung Tá Vận tŕnh ông Trần văn Hữu Thủ tướng Chính phủ kiêm nhiệm Bộ trưởng Quốc Pḥng bổ nhiệm vào Nha Đổng Lư Bộ Quốc Pḥng để thành lập Ban Mật Mă, soạn các tài liệu và tổ chức các hệ thống Mật Mă bảo vệ cơ mật cho các lệnh và tin tức Mật trao đổi qua hệ thống Truyền Tin, giữa Bộ Quốc pḥng với các nơi sau: Bộ Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp (EMIF) tại Sài G̣n, Vơ pḥng Quốc trưởng Bảo Đại tại Đà Lạt, các Bộ Tham mưu Miền (État major Régional) ở Hà Nội, Huế, Sài G̣n, các Cơ quan Quân sự địa phương và các Tiểu đoàn Việt Nam đă thuộc quyền quản trị của Chính phủ Việt Nam, nhưng vẫn do các sĩ quan Pháp chỉ huy. Lúc đó ở Bộ Quốc pḥng có một Trung tâm Truyền Tin do Trung úy Lê văn Hiền chỉ huy (sau này anh Hiền làm Chánh Sở Vật liệu Truyền Tin đầu tiên do Pháp bàn giao vào cuối năm 1954 qua đầu năm 1955).

Khoảng 2 tháng sau, Ban Mật Mă của Tôi được chuyển sang thống thuộc Tham mưu Biệt bộ Bộ Quốc pḥng, do Trung Tá Lê văn Tỵ kiêm nhiệm cả 2 chức vị: Tham mưu trưởng Biệt bộ Bộ Quốc pḥng và Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Miền Nam.

Qua năm 1952, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập, Ban mật Mă của Tôi lại được chuyển qua Bộ Tổng Tham Mưu, đặt thuộc quân số Văn pḥng Tổng Tham Mưu trưởng. Cơ sở Bộ Tổng Tham Mưu đặt tại đường Trần Hưng Đạo gần ngă tư Trần B́nh Trọng ráp ranh Sài g̣n và Chợ Lớn.

Trong khoảng Đệ Nhất Tam cá nguyệt 1957, Tôi  làm Chánh chủ khảo khóa Mật Mă Viên tại Trung Tâm Huấn Luyện Truyền Tin Vũng Tầu, do Thiếu tá Nguyễn Đ́nh Tài Chỉ Huy.

Khoảng cuối tháng 9 năm 1957, chúng tôi gồm 12 sĩ quan (8 người bên Khai thác và 4 người bên Tiếp liệu) được Pḥng Huấn luyện MACV gọi tŕnh diện làm thủ tục lên đường sang Hoa Kỳ theo học 2 khóa Truyền Tin liên tiếp (khóa sĩ quan Truyền Tin Cao cấp, và khóa Tiếp liệu Bảo tŕ vật liệu Truyền Tin cấp Chiến trường) tại Trường Truyền Tin Lục quân Hoa Kỳ ở Fort Monmouth, Tiểu bang New Jersey,

Vào khoảng cuối tháng 5 năm 1958 măn khóa , Tôi trở về Việt Nam và làm Giám đốc Trường Truyền Tin Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức ở Thủ Đức- Gia Định.

Giám đốc cũ của Trường là Đại úy Mai Lương Tể, đă bị giao hoàn về Bộ Chỉ huy Viễn Thông đợi lệnh.Đại úy Cổ Tấn Hổ xử lư thường vụ chức Giám đốc Trường trong khi chờ bổ nhiệm người mới thay thế Đại úy Mai Lương Tể.

Đại úy Hổ đưa Tôi về Trường Truyền Tin, dẫn vào pḥng làm việc dành riêng cho Giám Đốc, và yêu cầu Trung úy Nhờ trưởng Ban Hành Chánh triệu tập tất cả nhân viên thuộc Trường, họp tại pḥng Hội vào giờ các lớp học nghỉ giải lao, để giới thiệu với Tôi.
Buổi chiều, Tôi nhờ Đại úy Hổ hướng dẫn đi thăm chào xă giao các giới chức thẩm quyền thuộc Bộ Chỉ huy Liên trường, các vị Giám đốc Trường, và Đại tá Cố vấn trưởng. Trước nhất, Tôi đến chào Trung tá Lê Quang Hiền Tham mưu trưởng, sau đó đi chào Thiếu tá Nguyễn Đức Thắng Trưởng Khối Huấn luyện, Thiếu tá Vĩnh Biểu Trưởng Khối Hành chánh, rồi đến các vị Giám đốc Trường. Trường Hành chánh Tài chánh là Trung tá Đỗ Tùng. Trường Thiết Giáp là Thiếu tá Vĩnh Lộc . Trường Bộ Binh Trừ bị là Đại úy Nguyễn Viết Thanh .C̣n 2 trường ở tận vùng B́nh Dương là Trường Công Binh Đại úy Bạch (h́nh như họ Nguyễn), và Trường Pháo Binh (một thiếu tá có thương tật nơi tay phải, không nhớ tên) th́ không đi thăm, v́ ở xa không thuận tiện. Sau cùng là thăm Đại tá Cố vấn trưởng của Liên trường và Thiếu tá Cố vấn riêng cho Trường Truyền Tin.

Khóa sinh hiện diện tại Trường lúc đó có khoảng 150 người (khóa sinh viên sĩ quan trường Bộ binh học giai đoạn 2 Căn bản Truyền Tin, và khóa hạ sĩ quan sửa chữa vật liệu Truyền Tin).
Cơ sở Trường Truyền Tin gồm một dăy nhà chính hai tầng, chia ra như sau: Tầng dưới gồm các văn pḥng Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng Khối Huấn luyện, các Huấn luyện viên, Pḥng họp và Ban Hành chánh, -tầng trên là các pḥng học, và 4 dăy trệt: một dăy dành cho Ban Tiếp liệu bảo tŕ và kho chứa vật liệu máy móc Truyền Tin, 3 dăy c̣n lại chia ra thành các xưởng học sửa chữa cho từng loại máy và pḥng làm việc riêng của các Huấn luyện viên sửa chữa. Khả năng có thể thâu nhận huấn luyện một lúc khoảng 300 khóa sinh, thế mà suốt thời gian qua lúc nào Trường cũng chỉ nhận huấn luyện có khoảng 150 khóa sinh là tối đa. Hỏi Trung úy Nguyễn văn Khanh Trưởng Khối huấn luyện cho biết là v́ thiều Huấn Luyện Viên .

Các khóa huấn luyện gồm :

-Khóa căn bản Truyền Tin cho các sinh viên sĩ quan trừ bị học giai đoạn 2 (sau khi tốt nghiệp họ sẽ được bổ sung về các đơn vị thuộc Binh chủng Truyền Tin) ;

-Khóa sĩ quan căn bản Truyền Tin cho Binh Đoàn;

-Khóa căn bản Truyền Tin cho các sĩ quan đang phục vụ trong các đơn vị thuộc quân số Binh chủng Truyền Tin nhưng chưa học một khóa Truyền Tin chuyên nghiệp nào và các hạ sĩ quan chuyên viên Truyền Tin mới được thăng lên hàng sĩ quan;
-Khóa tiếp liệu tồn trữ vật liệu Truyền Tin;

-và sau cùng là Khóa sửa chữa vật liệu Truyền Tin cho các hạ sĩ quan thuộc các đơn vị trong Binh Chủng Truyền Tin.

Trường chỉ phải lo hoàn toàn về huấn luyện, các vấn đề quản trị hành chánh cho cả nhân viên nhà trường lẫn khóa sinh đều do Khối Hành chánh Liên Trường đảm trách. Vấn đề kiểm soát sinh hoạt duy tŕ kỷ luật đối với các khóa sinh ngoài giờ học, do Đại úy Nguyễn Phúc Nghiệp, Liên đội trưởng khóa sinh do Liên Trường bổ nhiệm lo toan. Dĩ nhiên là vị này phải thường xuyên liên lạc với Ban Giám đốc Trường để phối hợp. V́ thế, Tôi dồn toàn thời gian vào việc đôn đốc cải tiến cập nhật hóa các chương tŕnh huấn luyện, kỹ thuật huấn luyện, hiệu chỉnh các tài liệu tham khảo cho khóa sinh, giàn bài huấn luyện của các huấn luyện viên, thực hiện các loại trợ huấn cụ cần thiết cho các xưởng huấn luyện sửa chữa, và lập Thư viện sách kỹ thuật cho Trường.
Một điều làm Tôi cảm thấy không ổn cho lắm là, khoảng 50 phần trăm tổng số huấn luyện viên sĩ quan và hạ sĩ quan không có mặt thường xuyên tại trường trong giờ làm việc, nếu ngày hôm đó họ không có giờ phải lên lớp. Trung úy Khanh trưởng Khối huấn luyện giải thích là họ ở nhà soạn bài. Tôi không đồng ư và buộc phải chấn chỉnh lại, trong giờ làm việc mọi người phải có mặt tại văn pḥng. Biện pháp cương quyết này, đă giúp Tôi phát giác ra là các bạn ấy lợi dụng thời gian không dậy học để ở nhà trau dồi thêm văn hóa thi lấy bằng Trung học. Do đó, khi nào các khóa đang học giai đoạn lư thuyết th́ các lớp trên lầu mở cửa thường xuyên, c̣n các lớp tại các dăy nhà trệt đóng cửa im ỉm, và ngược lại khi các khóa xuống học tại các xưởng thực hành sử dụng máy hoặc sửa chữa th́ các lớp trên lầu đóng cửa. Nhờ thế mà các Huấn luyện viên có nhiều giờ rảnh liên tục để ngồi lo trau dồi văn hóa riêng. Và có lẽ cũng v́ thế mà Ban Giám đốc cũ không muốn đặt kế hoạch tổ chức các khóa học gối đầu nhau để gia tăng sĩ số khóa sinh thụ huấn tại Trường.
T́nh trạng này đă khiến Tôi phải áp dụng kế hoạch cải tiến khắt khe, làm một số anh em không vui bụng cho lắm, v́ không được tự do như từ trước ngày Tôi về làm Giám đốc Trường. Tôi theo dơi cảm nhận được như vậy, nhưng v́ nhu cầu cung cấp chuyên viên cần yếu cho các đơn vị Quân lực đang trong thời tăng trưởng nhanh theo kế hoạch cải tiến, Tôi buộc ḷng phải cương quyết cứng rắn thực hiện bằng được các dự tính của Tôi, nhằm gia tăng sĩ số khóa sinh thụ huấn thường xuyên tại Trường từ 150 lên 300, mà không cần bổ sung thêm Huấn luyện viên và pḥng học đang có sẵn. Ban đầu cũng hơi khó khăn, nhưng rồi mọi chuyện cũng lướt đi suôn sẻ như dự tính của Tôi.
Đối diện với Trường Truyền Tin, ngay bên kia khu công viên rộng lớn, cũng có một cơ sở kiến trúc y hệt Trường Truyền Tin, được dùng làm cơ sở cho hai Trường : Trường Thiết Giáp Binh và Trường Hành chánh Tài chánh. Tổng số khóa sinh của cả 2 trường này cộng lại lúc nào cũng có khoảng từ 250 đến 300.

Một tháng sau, Đại úy Cổ Tấn Hổ được lệnh thuyên chuyển ra khỏi Trường theo đơn xin của ông ấy đă đệ tŕnh lên Bộ Chỉ huy Viễn Thông từ nhiều tháng trước khi Tôi về Trường. Đại úy Nguyễn Hữu Mai được đưa về thay thế.

Ba tháng sau, mọi kế hoạch cải tiến của Tôi được hoàn tất tốt đẹp. Các tài liệu tham khảo về các môn học được dịch ra Việt ngữ và in ra để phát cho khóa sinh nghiên cứu trước khi vào lớp học. Các dàn bài Huấn luyện chi tiết và các biểu đồ h́nh chiếu, cần cho Huấn luyện viên dùng trong mỗi bài giảng dậy cũng được tu chỉnh in ra lưu trữ, bất cứ ai cũng có thể dùng để lên lớp giảng bài trong trường hợp Huấn luyện viên chính v́ lư do nào đó không lên lớp được. Không xin được viện trợ các loại trợ huấn cụ dùng trong các xưởng huấn luyện sửa chữa, nên Cố vấn Hoa Kỳ được Tôi yêu cầu đến khu vật liệu phế thải của MACV, xin gỡ lấy những bộ phận rời c̣n dùng được trong các máy phế thải đem về thực hiện các trợ huấn cụ cho khóa sinh thực tập. Kế hoạch tổ chức các khóa học được sửa đổi, đặc biệt các khóa sửa chữa được dự trù mở gối đầu nhau (khóa trước hết giai đoạn lư thuyết xuống xưởng thực hành, th́ khóa kế theo khai giảng). Nhờ thế sĩ số khóa sinh thụ huấn tại Trường lúc nào cũng có từ 250 đến 300 người, và tất cả các lớp học trên lầu và tại các dăy nhà sau lúc nào cũng đầy khóa sinh. Hoạt động của Trường trở nên nhộn nhịp, suốt ngày mọi người đều bận bịu. Nhưng, các Huấn luyện viên cũng vẫn có một số giờ rảnh hàng ngày, để trau dồi văn hóa riêng chuẩn bị thi lấy bằng Trung học vào mùa thi.

Mọi việc chấn chỉnh vừa hoàn tất, th́ Trung úy Khanh cho biết là Đại úy Vơ Đại Khôi Chánh sự vụ Sở Viễn Thông Bảo An, mới thành lập một Trung tâm huấn luyện chuyên viên Truyền Tin riêng cho Bảo An Đoàn thuộc Bộ Nội Vụ, muốn xin giúp cho một số tài liệu huấn luyện của Trường.

 Đại úy Trương văn Tàng vừa du học Hoa Kỳ về được bổ sung thay thế Trung úy Khanh đi học bổ túc chuyên nghiệp tại Hoa Kỳ. Sau khi du học Hoa Kỳ về, ông Khanh đi làm sĩ quan Truyền Tin Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại Mỹ Tho.

Mấy tháng sau, Đại úy Nguyễn Hữu Mai được thuyên chuyển đi làm sĩ quan Truyền Tin Sư đoàn 21 Bộ Binh tại Bặc Liêu. Đại úy Vơ Trịnh Trọng mới du học Hoa Kỳ về, được đưa về Trường thay chỗ anh Mai.

Đầu tháng 3 năm 1960, Tôi được Liên trường thông báo cho biết là Bộ Tổng Tham mưu yêu cầu cho Tôi làm thủ tục đi Du hành Quan sát về Truyền Tin trên Lục địa Hoa Kỳ một  tháng vào đầu tháng 4.

Trong thời gian Tôi đi du hành thăm viếng Truyền Tin tại Hoa Kỳ, anh Đại úy Vơ Trịnh Trọng Phó Giám đốc, được cử Xử lư thường vụ chức Giám đốc Trường.

Sau biến cố đảo chánh hụt ngày hôm sau ngày 11 tháng 11 năm 1960 ,v́ bị t́nh nghi dính liếu với phe đảo chánh hụt,  Tôi nhận được lệnh phải tổ chức lễ bàn giao chức Giám đốc Trường cho Đại úy Vơ Trịnh Trọng vào sáng ngày kế theo. Ngay sau lễ bàn giao rất đơn giản, chỉ có nhân viên thuộc Trường và các khóa sinh đang theo học,
Khi Sở Viễn Thông Bảo An cải biến thành Nha Viễn Thông Bộ Nội vụ, và Bộ Chỉ huy Viễn Thông cùng Sở Vật liệu Truyền Tin sát nhập biến thành Cục Truyền Tin thống thuộc hệ thống chỉ huy của Tổng Cục Tiếp Vận, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức giải tán, tất cả các Trường đặt thuộc quyền chỉ huy thẳng của Tổng Cục Quân Huấn về mặt quản trị hành chánh, thiết lập các kế hoạch và ngân sách huấn luyện hàng năm, đồng thời trực thuộc các Nha Sở Binh chủng chuyên môn về kỹ thuật và quản trị bổ sung nhân viên. Do đó, Trường Truyền Tin được di chuyển xuống Vũng Tầu sát nhập với Trung tâm Huấn luyện Truyền Tin bị giải tán.

(Chú thích : Tài liệu  [7]  không có ghi rơ năm tháng Trường Truyền Tin  Vơ Khoa Thủ Đức được di chuyển xuống Vũng Tàu. Nhưng theo tài liệu [3] ,Tháng 10 năm 1961, Trường Truyền Tin thuộc Liên trường Vơ Khoa Thủ Đức dời về Vũng Tàu để cùng với Trung Tâm Huấn Luyện TT/Vũng Tàu thành lập một Trường Truyền Tin duy nhất với tên Trường TT/QLVNCH Vũng Tàu; có nhiệm vụ huấn luyện tất cả các loại chuyên viên TT cho các Quân Binh Chủng .

Các SVSQ Thủ Đức học hết giai đoạn 1 (phần căn bản Quân sự) sang giai đoạn 2 nếu được tuyển chọn đi ngành TT, được huấn luyện tại TTT/Vũng Tàu và tốt nghiệp SQTT tại đây ) .Thiếu tá Phan văn Chuân nguyên Chỉ huy trưởng Viễn thông Quân khu 2 (sau Hiệp định Genève 1954 đổi thành Quân Khu I) tại Huế, được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trường Truyền Tin. Thiếu tá Phạm văn Tiến, vừa thoát khỏi ách kỷ luật về vụ có liên hệ với cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11 năm 1960, được bổ nhiệm làm Chỉ huy phó. Thiếu tá Nguyễn Đ́nh Tài nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện giải tán, được bổ nhiệm lên Trường Đại học Quân sự Đà Lạt làm Huấn luyện viên về khoa Truyền Tin.

Thế rồi vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, cuộc đảo chánh đă xảy ra. Tôi nhận Sự vụ lệnh sang tŕnh diện Nha Tồng Thanh tra tại Bộ Quốc pḥng, để chờ lệnh thuyên chuyển đi đơn vị mới ngoài Binh chủng Truyền Tin .

 

Trường Truyền Tin Vũng Tàu  theo Phần 1-b tài liệu [3] viết bởi  Bồ Câu Nguyễn Bế, cựu Thiếu Tá QLVNCH :

 

Bồ Câu Nguyễn Bế- H́nh trích từ tài liệu [3]

 

Vào năm 1969 (?) , Trường Truyền Tin Vũng Tàu sát nhập vào Tổng Cục Quân Huấn và vẫn hệ thuộc với Cục Truyền Tin  về Kỹ thuật chuyên môn.

Tháng 10 năm 1970, v́ số lượng khóa sinh quá đông, Trường Truyền Tin Vũng Tàu cho mở thêm “Chi Nhánh Trường Truyền Tin  Vũng Tàu", gần với Trường Chính, để huấn luyện phần SQTT căn bản, SQTT Trung Cấp, và Cao cấp. Đặc biệt là huấn luyện cho số chuyên viên ICS–DTE. Sau khi học xong một chương tŕnh huấn luyện 13 tháng, vừa Anh Ngữ vừa chuyên môn, sẽ đi thực tập và làm việc (chương tŕnh OJT=On Job Trainning) tại các Đài ICS–DTE của QĐHK.

 

Huy Hiệu Trường Truyền Tin (may trên cánh tay trái chiến y của các chiến binh Truyền Tin- H́nh trích từ tài liệu  [3] Phần 2

 

Không ảnh Trường Truyền Tin  tại Vũng Tầu – H́nh trích từ tài liệu  [3] Phần 3

 

Cửa chính vào Trường Truyền Tin Vũng Tầu – H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

 

  Tr%25C6%25B0%25E1%25BB%259Dng+Truy%25E1%25BB%2581n+Tin+V%25C5%25A9ng+T%25C3%25A0u+1969_result

Binh sĩ đang được huấn luyên ở Trường Truyền Tin Vũng Tàu năm 1969 – H́nh trích từ tài liệu [8]  

Aucune description de photo disponible.

Huấn luyện viên , cấp bậc Thượng sĩ Nhất  (đeo kiếng)  đang hướng dẫn Dựng Cột Anten 292 ( Anten "Dù" ) - H́nh trích từ tài liệu [7] & [9]

 

Trên tài liệu [9] : Andre Hodac viết  : Nhớ ngày xưa đi học . Bạn khoá sinh có miếng vải vàng trên túi áo là thuộc Tiểu Đoàn 2 . Riêng tôi khi học ở Tiểu Đoàn 3 có miếng vải đó. Tiểu đoàn 1 có miếng vải xanh. Đă 52 năm rồi c̣n nhớ măi.

Lam Thanh  viết : Tôi học trường này lớp HT 14 , năm 1964.  Ra trường về tiểu khu Kiến tường , băng 251 hiệu thính viên , mang cánh gà .

Thach Pham viết : Trường Trần Nguyên Hăn,tôi học khóa Chuyên viên sửa chữa Radar .

 

 

Thiệp Chúc Tết của Trung Tâm Huấn Luyện Truyền Tin-Năm không rơ-H́nh trích từ tài liệu [10]

 

Phần 2 : Binh Chủng Truyền Tin

Trường Truyền Tin là một phần cốt lơi của Cục Truyền tin, chuyên trách về kỹ thuật và nhân lực thông tin liên lạc cho toàn quân lực. V́ vậy xin ghi thêm lược sử việc thành lập Binh Chủng Truyền Tin

Binh Chủng Truyền Tin theo thời gian có các  tên gọi sau đây : Trung Tâm Truyền Tin ,Nha Truyền Tin , Cục Truyền Tin

 

Cục Truyền Tin QLVNCH –H́nh trích từ tài liệu  [3] Phần 2

 

 

 

Bằng Truyền Tin QLVNCH (Kim loại)- H́nh trích từ tài liệu  [3] Phần 2

 

 

 

Bằng Truyền Tin QLVNCH (vải thêu)- H́nh trích từ  tài liệu  [3] Phần 2

 

Theo tài liệu [1]  :

Thánh Tổ  Binh chủng Truyền Tin Việt Nam Cộng Ḥa : Tướng Trần Nguyên Hăn Tướng Trần Nguyên Hăn .

Khẩu hiệu Binh chủng Truyền Tin Việt Nam Cộng Ḥa : Chính xác-Mau Chóng-Bảo Đảm.

 

Theo tài liệu [3] Phần 1-a :

 Trong Quân đội có nhiều ngành chuyên biệt khác nhau. Do đó, mỗi ngành chuyên biệt đều có Huy Hiệu riêng để nhận diện phân biệt trên các bộ quân phục. Thoạt đầu Binh chủng Truyền Tin được tổ chức theo khuôn mẫu quân đội Pháp, nên được chia ra thành hai lănh vực hoạt động chuyên trách khác nhau :

1. Ngành chuyên trách về KHAI THÁC : Ban hành các huấn lệnh hướng dẫn điều hành việc sử dụng các phương tiện máy truyền tin để duy tŕ liên lạc giữa các cấp đơn vị trong toàn quân đội;

2. Ngành chuyên trách về VẬT LIỆU : Lo toan các công tác tiếp tế, tồn trữ, và sửa chữa các máy truyền tin, để cung cấp cho các đơn vị trong toàn quân đội theo đúng Bảng Cấp Số quy định riêng cho mỗi đơn vi.

Do đó nên thưở ban đầu ấy, Binh chủng Truyền Tin có tới 2 loại Huy Hiệu khác nhau gắn trên ngực áo các bộ quân phục: Chim bồ câu xoè cánh với bó đuốc trên lưng (h́nh 1) cho Ngành Khai Thác, và Bó đuốc với hai mũi tên bắt tréo (h́nh 2) cho Ngành Vật liệu.

 

 

 

Huy Hiệu Binh Chủng Truyền Tin thưở ban đầu - H́nh trích từ tài liệu [3] & [7]

 

Phù Hiệu đơn vị mang nơi tay áo trái là Phù Hiệu của Đại đơn vị mà đơn vị Truyền Tin đó phụ thuộc. Chẳng hạn Bộ Chỉ Huy (BCH) Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu th́ đeo Phù hiệu của Bộ Tổng Tham Mưu , các BCH Viễn Thông Quân Khu th́ đeo Phù Hiệu của Bộ Tư Lệnh Quân khu mà BCH trực thuộc, Đơn vị Truyền Tin thuộc Sư Đoàn nào th́ đeo Phù Hiệu riêng của Sư Đoàn đó, Sở Vật liệu th́ đeo Phù hiệu của Nha Quân Cụ.

Đến thời kỳ Quân Đội cải tiến tổ chức theo khuôn mẫu Quân Đội Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1950, th́ cả 2 ngành Khai Thác và Vật Liệu Truyền Tin đều mang chung một mẫu Phù Hiệu mới duy nhất là Thanh kiếm với 3 ṿng quỹ đạo hạt nhân điện tử chạy quanh lưỡi kiếm (h́nh 3) nơi tay áo trái của mọi loại quân phục. Đồng thời có chung một Huy Hiệu bằng kim khí mầu vàng, gắn ở nơi ve áo 2 bên cổ các loại quân phục là Chim bồ câu xoè cánh với bó đuốc trên lưng (h́nh 1) là mẫu Phù Hiệu trước kia của ngành Khai Thác.

 

 

Huy Hiệu Binh Chủng Truyền Tin cuối thập niên 1950- H́nh trích từ tài liệu [3] & [7]

 

Trích từ tài liệu [3] Phần 1-b :

 Một Quốc gia phải có Quân Đội (QĐ) và việc liên lạc Truyền Tin (LLTT) dù bất cứ ở cấp nào, đơn vị nào cũng cần phải có nó. Hệ thống liên lạc TT có kỹ thuật cao, điều hành tốt th́ tin tức truyền đi mới được bảo mật, nhanh chóng và chính xác.
Binh chủng Truyền Tin (BCTT) nhờ được sử dụng những phương tiện truyền tin tiên tiến của Quân đội Hoa Kỳ và Pháp đă đáp ứng được mọi nhu cầu LLTT cho QLVNCH trên khắp chiến trường, trong mọi giai đoạn khó khăn để ngăn chận quân cộng sản miền Bắc, bảo vệ Miền Nam VN sống trong Tự Do Thanh B́nh và Hạnh Phúc Thịnh Vượng dưới Chính  Thể Cộng Ḥa hơn ¼ thế kỷ.

Để hoàn thành nhiệm vụ, những quân nhân Truyền Tin, tùy theo chuyên nghiệp, cần phải có một tŕnh độ học vấn tối thiểu, đủ để được huấn luyện cách sử dụng và bảo tŕ các phương tiện TT luôn luôn đổi mới, kỹ thuật liên lạc luôn luôn cải tiến.
Nhân viên TT khi giữ những nhiệm vụ quan trọng bắt phải được cơ quan An Ninh Quân Đội điều tra an ninh trước khi giao nhiệm vụ, sau đó tái điều tra theo định kỳ hàng năm.
BCTT lấy h́nh ảnh Chim Bồ Câu làm Huy Hiệu (biểu tượng) và “Tả Tướng Quốc Công Trần Nguyên Hăn” làm vị Thánh Tổ. Lư do, trong công cuộc kháng chiến chống quân Minh, từ năm 1418, của nước ta, Trong đoàn quân của B́nh Định Vương Lê Lợi có Tướng Trần Nguyên Hăn đă dùng Chim Bồ Câu đưa tin từ chiến trận, đang bị quân Minh vây khốn về kinh đô xin cứu viện.

Thật vậy! Bồ Câu là loài chim quư, hiền ḥa, không bao giờ lạc lối và Đức Trần Nguyên Hăn là một Tướng Tài !

Vào dịp chào mừng Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1967 tại Sài G̣n, Binh chủng Truyền Tin đă được Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa cho phép xây dựng tượng đài Thánh Tổ Trần Nguyên Hăn, ngay tại giữa công viên trước mặt tiền chợ Bến Thành (Sài G̣n). Tượng đài gồm một bệ h́nh tháp vuông cao cả chục mét, với 4 cửa ṿng cầu thông suốt qua bốn hướng, trên đỉnh bệ tháp là tượng danh tướng Trần Nguyên Hăn , đúc bằng đồng đen, ngồi trên lưng ngựa, tay trái tựa trên đốc gươm, tay phải dơ cao CON BỒ CÂU như đang sẵn sàng thả nó bay đem tin đi.

Tượng đài Tướng Trần Nguyên Hăn tại công trường Quách Thị Trang trước chợ Bến Thành Sài g̣n- H́nh trích từ tài liệu [7]

 

Tổ Chức và Hoạt Động của BCTT quả thật rất rộng lớn, do đó các đơn vị và chuyên viên thuộc ngành QLVNCH được chia làm 2 thành phần: Truyền Tin Binh Chủng và Truyền Tin Binh Đoàn.

Truyền Tin Binh Chủng: bao gồm nhân viên và các đơn vị TT Lục Quân cấp Trung ương, cấp Quân Đoàn (Vùng Chiến Thuật), Cấp Sư Đoàn (Khu Chiến Thuật) các đơn vị TT/Diện Địa/Cố Định trên toàn lănh thổ VNCH.

Truyền Tin Binh Đoàn: bao gồm nhân viên và các đơn vị thuộc Quân Chủng Lục Quân từ cấp Trung Đoàn trở xuống và Không Quân, Hải Quân, cùng các Binh Chủng như Lực Lượng Đặc Biệt, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh v.v.

Ngoài ra trong TT Binh Chủng c̣n được chia thành 3 ngành chuyên môn khác nhau. Đó là:
–Khai Thác Liên Lạc TT;

–Yểm Trợ Tiếp Liệu TT;

–Huấn Luyện Chuyên Viên TT.

Ba ngành này hoạt động song song với nhau đă làm cho kỹ thuật liên lạc Truyền Tin của QLVNCH từ thô sơ lúc khởi đầu Quân Đội Pháp giao lại, đă tiến bộ nhanh chóng trong LLTT và sau cùng Tiếp Nhận và Điều Hành “hệ thống liên lạc Viễn Thông Liên Kết” của QĐHK quy mô nhất,tiên tiến nhất trong Vùng Đông Nam Á.

Theo ḍng thời gian, những thời kỳ được nhắc tới sau đây, căn cứ theo những t́nh h́nh biến chuyển của đất nước, của Quân .

1. Thời  kỳ từ năm 1949-1954

Vào ngày 08 tháng 3 năm 1949 Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Cựu Hoàng Bảo Đại kư Hiệp ước Elysée, Pháp Quốc, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên Hiệp Pháp, gọi là Quốc Gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Cựu Hoàng Bảo Đại yêu cầu Pháp trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đă chấp nhận yêu cầu này.

Như vậy Việt Nam đă thống nhất được 3 miền Bắc–Trung–Nam mà trước đây dưới sự đô hộ của Pháp đă chia ra: Bắc Kỳ bảo hộ, Trung Kỳ tự trị, và Nam Kỳ thuộc địa.
Ngày 01 tháng 7 năm 1949 chính phủ Quốc Gia Việt Nam  thành lập Nội Các có Bộ Quốc Pḥng, có Quân Đội với danh hiệu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (QĐQGVN).
Ngày 01 tháng 10 năm 1949, Bộ Quốc Pḥng ban hành Nghị định thành lập 4 Tiểu Đoàn Việt Nam (Bataillon Vietnamien=BVN) hoạt động song song với Quân Đội  Liên Hiệp Pháp. 4 Tiểu Đoàn đó là :

Tiểu Đoàn 1 tại Bạc Liêu (gốc Cao Đài);

Tiểu Đoàn 2 tại Thái B́nh;

Tiểu Đoàn 3 tại Rạch Giá;

Tiểu Đoàn 4 tại Hưng Yên;

Mỗi Tiểu Đoàn có 1 Sĩ Quan TT và 1 Ban Truyền Tin gồm 24 nhân viên.
Trong những năm kế tiếp, QĐQGVN thành lập thêm nhiều đơn vị Bộ Binh. Theo nhu cầu liên lạc TT, có 8 Đại Đội TT biệt lập được thành lập, hoạt động trên khắp lănh thổ Việt Nam.
Năm 1951: ĐĐ1 Cần Thơ, ĐĐ2 Huế, ĐĐ3 Nam Định, và ĐĐ4 Ban Mê Thuột).
Năm 1952 : ĐĐ5 Hà Nội, ĐĐ6 Gia Định;

Năm 1953: ĐĐ7 Nha Trang, ĐĐ8 Phà Đen (ngoại ô Hà Nội);

Năm 1952: Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN thành lập tại Sài G̣n, trong đó có Bộ Chỉ Huy Viễn Thông (BCHVT) là cơ quan Trung Ương của BCTT.

Trong Bộ Quân Sử của QLVNCH –Quyển IV– nơi mục nói về “các Quân Binh Chủng chiến đấu và yểm trợ chiến đấu. Nơi Mục 7 Truyền Tin” ghi như sau:
“ Ngành Truyền Tin Việt Nam bắt đầu có từ năm 1951 với những Đại Đội Truyền Tin biệt lập tại các Miền Quân Sự. Khác với các binh chủng chiến đấu khác, Bộ Chỉ Huy của Binh Chủng Truyền Tin được thành lập ngay với Bộ Tổng Tham Mưu và đồng thời các cơ quan Truyền Tin Quân Khu cũng được thành lập ngay với các Quân Khu. Lúc ấy các Bộ Chỉ Huy Truyền Tin gọi là Bộ Chỉ Huy Viễn Thông Trung Ương và các Bộ Chỉ Huy Viễn Thông Quân Khu … ‘’.

Như vậy, cho thấy rằng nhu cầu LLTT trong Quân Đội rất cần thiết, đă chuẩn bị trước (1951) rồi mới thành lập Bộ TTM (1952) .

Trong thời gian này về mặt Quân Sự, toàn lănh thổ Việt Nam được tổ chức như sau:
* Cấp Tỉnh: có một Bộ Chỉ Huy Cơ Quan Quân Sự (sau này đổi thành Tiểu Khu). Tại mỗi Tỉnh có một Trung Tâm Truyền Tin (TTTT) cố định để cung cấp LLTT về Điện Thoại và Điện Báo (Téléphone et Télégraphe) cho Cơ Quan Quân Sự và các Đơn Vị đồn trú; Quân số 37 nhân viên, có thể nhiều hay ít hơn tùy theo số đơn vị đồn trú trong lănh thổ.
* Cấp Phân Khu: nhiều Tỉnh trong một khu vực được thành lập. Có một Pḥng Truyền Tin dưới sự chỉ huy của vị Sĩ Quan Truyền Tin Phân Khu. Việc cung cấp LLTT cho Phân Khu do các TTTT ở các Tỉnh.

 * Cấp Quân Khu : Gồm các Phân Khu trong một Miền .

Lănh thổ Việt Nam được chia thành 4 Quân Khu (QK) , gồm có :

Đệ 1 QK Miền Nam, Đệ 2 QK Miền Trung, Đệ 3 QK Miền Bắc, và Đệ 4 QK Cao Nguyên.
Mỗi Quân Khu  gồm có :

–BCHVTQK có nhiệm vụ tổ chức, điều hành và giám sát ngành TT trong QK:
–1 Đại Đội TT Địa Phương để quản trị quân số, quân dụng của các TTTT trong QK.
–1 hay 2 Đại Đội Vô Tuyến Điện (VTĐ) để tăng cường LLTT cho các đơn vị BB trong lúc hành quân.

–1 Trung Tâm Huấn Luyện Kỹ  Thuật TT (Centre d’Instruction des Transmissions Régional =C.I.T.R.) để huấn luyện cho các chuyên viên TT.

–Việc Yểm Trợ VLTT [Vật Liệu Truyền Tin] tạm thời vẫn c̣n do ngành Quân Cụ.
* Cấp Trung Ương : Về tổ chức TT gồm có: Bộ Chỉ Huy Viễn Thông Trung Ương (BCHVTTƯ) trách nhiệm về Tổ Chức, Quản Trị, và Điều Hành cả 3 ngành Khai Thác, Tiếp Liệu, và Huấn Luyện.

 Đảm trách LLTT cho Bộ TTM và các Nha Sở của các Quân Binh Chủng, tại Sài G̣n và Hà Nội, vẫn c̣n do Quân Đội Pháp đảm trách trong những năm đầu thành lập Bộ TTM. (Đó là lư do tại sao 2 ĐĐ/TT ở Hà Nội và Gia Định thành lập sau ĐĐTT 1,2,3,4 một năm)
Về Khai Thác LL Truyền Tin: Việc LL Điện Thoại trong thời kỳ này, chỉ xử dụng Hệ Thống Dây qua Tổng Đài khai thác bằng tay trong phạm vi địa phương. Liên lạc Điện Thoại Viễn Liên phải qua hệ thống Vô Tuyến Âm Thoại; và chỉ được cung cấp cho các vị Tư Lệnh, các Chỉ Huy Trưởng binh đoàn / đại đơn vị.

Liên lạc Điện Báo dùng kư hiệu “Morse” (Tích–Ta) chuyển trên các hệ thống vô tuyến điện và để bảo mật, các công điện phải qua sự ngụy hóa – ngụy dịch và mă hóa – mă dịch.
Tất cả các quân dụng TT hoàn toàn của Quân Đội Pháp và Đặc Lệnh TT do Sĩ Quan  Pháp soạn thảo bằng Pháp Ngữ. Tuy rằng BCTT đă được thành lập nhưng về chỉ huy vẫn do Sĩ Quan Pháp điều khiển cho tới ngày đ́nh chiến 1954 .

Vị CHT/BCTT đầu tiên là Trung tá Lương Thế Soái nhận bàn giao với Trung tá Platwat Roundil một Sĩ Quan TT Pháp.

Về Yểm Trợ Tiếp Liệu Truyền Tin

 Ngày 1/1/1953 các cơ cấu Yểm Trợ Tiếp Liệu sau đây được thành lập:
* Tại Trung ương, Sài G̣n, thành lập Nha Vật liệu Truyền Tin [VLTT] (Direction Centrale du Service du Matériel des Transmissions=DCMT) trước đó do Nha Quân Cụ quản trị.
* Ở các Quân Khu có Sở Vật Liệu Truyền Tin (Etablissement Régional du Service du Matériel
des Transmissions (ERMT) ).

* Đồng thời để nới rộng tầm Yểm Trợ, vào đầu năm 1954 cho mở thêm những Chi Nhánh Cơ Xưởng Sửa Chữa và Đơn Vị Tồn trữ (Annex Etablissment Régional du Service du Matériel des Transmission=Annex ERMT) tại các nơi như: Nam Định, Hải Pḥng, Đà Nẵng và Nha Trang.

Không như ngành Khai Thác Liên Lạc Truyền Tin được Quân Đội Pháp giao quyền Chỉ huy từ năm 1954; ngành Yểm Trợ và Tiếp Liệu vẫn do Sĩ Quan Pháp chỉ huy cho tới tháng 4/1955, gần một năm sau ngày đ́nh chiến, mới trực thuộc BCHVT Trung ương.
Về Huấn Luyện Chuyên Viên Truyền Tin

Lúc khởi đầu, phần huấn luyện chuyên viên TT cho Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ do Trung Tâm Huấn Luyện Kỹ thuật Truyền Tin tại các Quân Khu gồm các loại chuyên viên TT như: Hiệu Thính Viên, Điều Chỉnh Viên, Tổng Đài Viên, Khai Thác Vô Tuyến Điện, Thiết Trí và Sửa Chữa Dây, Máy Phát Điện, v.v.

 Phần Huấn Luyện SQTT do Khoa Truyền Tin thuộc Trường SQ Trừ Bị Thủ Đức đảm trách. Chương tŕnh huấn luyện do QĐ Pháp biên soạn.
Trong thời gian này các SQTT có khả năng được gởi du học tại Trường TT Montargis ở Pháp sau khi về được chỉ định đảm trách những nhiệm vụ quan trọng.

2. Thời Kỳ từ năm 1954-1961

 Hiệp định Genève 20/7/1954 chia đôi đất nước lấy vĩ tuyến 17 tại Quảng Trị làm ranh giới, Miền Nam VN trở thành Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) và Miền Bắc tiếp tục trong chế độ cộng sản. Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (QĐQGVN)  đổi danh hiệu thành Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa (QĐVNCH).

Cũng như các Quân Binh Chủng khác, BCTT gồm 3 Đại Đội TT và BCHVT thuộc Đệ 3 QK tập kết về Nam, tiếp tục làm nhiệm vụ chiến sĩ TT.

 

Thời kỳ Đệ Nhất Cộng Ḥa miền Nam Việt Nam bắt đầu :

Để có đủ quân số bảo vệ Miền Nam VN, thay vào chỗ trống của Quân Đội  Pháp rút khỏi Việt Nam, QĐVNCH lúc này gồm có 10 Sư Đoàn Bộ Binh, vừa Khinh Chiến và Dă Chiến, chưa kể lực lượng Bảo An Đoàn tại các Tỉnh. Do đó quân số BCTT phải tăng gấp bội.
Trong năm 1955, nhu cầu quân số của BCTT là 5,792 người, gồm 272 sĩ quan, 1,452 hạ sĩ quan, 3,541 binh sĩ, 227 nữ phụ tá, và 300 dân chính. Được phân bố như sau:
* Trung Ương có BCHVT Trung Ương .

1 Đại Đội khai thác Vô Tuyến Điện;

1 Tiểu Đoàn tồn trữ và sửa chữa VLTT.

* Cấp Quân Khu có BCHVTQK :

Mỗi Quân Khu có số Đại Đội TT khác nhau :

Đệ Nhất Quân Khu :

2 Đại Đội khai thác điện thoại và VTĐ;

1 Đại Đội sửa chữa Vật Liệu TT;

1 Đại Đội tồn trữ Vật Liệu TT;

2 Đại Đội Truyền Tin địa phương (hệ thống TT lănh thổ).

 Đệ Nhị Quân Khu :

1 Đại Đội khai thác điện thoại và VTĐ;

1 Đại Đội sửa chữa Vật Liệu TT dă chiến;

1 Đại Đội tồn trữ Vật Liệu TT;

1 Đại Đội Truyền Tin địa phương.

Đệ Tứ Quân Khu :

2 Đại Đội khai thác điện thoại và VTĐ;

2 Đại Đội sửa chữa Vật Liệu TT dă chiến;

2 Đại Đội tồn trữ Vật Liệu TT;

2 Đại Đội Truyền Tin địa phương;

10 Đại Đội Truyền Tin Sư Đoàn.

Tổng cộng có 29 Đại Đội  và 1 Sư Đoàn

Tất cả do BCHVT Trung ương quản trị và điều hành toàn bộ các đơn vị thuộc BCTT.

Về Khai Thác LLTT :

Các vật liệu TT căn bản vẫn tiếp tục sử dụng số máy TT do Quân Đội  Pháp để lại và dần dần được thay thế bằng máy Vô Tuyến Điện, Siêu Tần Số (Ultra High Frequency) của Quân Đội  Hoa Kỳ (QĐHK) . Việc liên lạc Điện Thoại và Điện Báo trên các hệ thống được tốt hơn về phẩm chất cũng như nhiều số mạch liên lạc hơn.

Các Đặc Lệnh TT đă hoàn toàn do giới chức Việt Nam có thẩm quyến soạn thảo.


Về Yểm Trợ Tiếp Liệu Truyền Tin :

Năm 1956 các ĐĐ Tồn trữ và ĐĐ Sửa Chữa VLTT giải tán để thành lập các Tiểu Đoàn Yểm Trợ TT tại các QK. Dưới Tiểu đoàn có các Biệt Đội Yểm Trợ Truyền Tin (YTTT) để yểm trợ trực tiếp về tiếp liệu và sửa chữa tại những nơi có nhiều đơn vị trú đóng.
Các VLTT của QĐ Pháp như SCR–536, SCR–300, SCR–694, SCR 193, SCR–542, Tổng Đài TC–4 được thay thế bằng VLTT của QĐHK như AN/PRC–6, AN/PRC–25, AN/GRC–9, AN/GRC–87, AN/GRC–26, Tổng Đài SB–22, v.v. vật liệu nhẹ nhàng hơn và liên lạc xa hơn.

Về Huấn Luyện Chuyên Viên TT :

Năm 1955 các Trung Tâm Huấn Luyện Kỹ thuật TT tại các Quân Khu (CITR) giải tán và gôm lại thành lập Trung Tâm Huấn Luyện TT Vũng Tàu để huấn luyện cho tất cả HSQ và BS thuộc ngành TT về phần Thiết Trí và Xử dung các máy TT. Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trường là Thiếu Tá Nguyễn Đ́nh Tài.

Cũng kể từ năm 1955, Trường SQ Trừ Bị Thủ Đức đổi danh thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, Khoa Truyền Tin đổi thành Trường Truyền Tin LTVK/TĐ tiếp tục lo việc huấn luyện SQ Căn Bản TT và các chuyên viên Sửa Chữa các máy TT.
Trong thời gian này một số SQTT có khả năng Anh ngữ được gởi đi thụ huấn tại Signal School, Fort Monmouth, thuộc Tiều Bang New Jersey, Hoa Kỳ.

 

3. Thời Kỳ từ năm 1961-1965

Từ cuối năm 1960, CS Miền Bắc xé bỏ Hiệp Định Genève 1954 công khai xâm chiếm Miền Nam VN. Cuộc chiến ngày càng leo thang. Để đối phó với t́nh h́nh, QĐVNCH thành lập 4 Quân Đoàn: QĐI, QII, QĐIII và QĐIV. Bên cạnh BTLQĐ có BCH Vùng Chiến Thuật trách nhiệm về lănh thổ .

 Các Phân Khu đổi thành Khu Chiến Thuật, do một Sư Đoàn đảm trách.
Các Cơ Quan Quân Sự đổi thành Tiểu Khu (TK). Có Ban TT lo việc TT trong TK.
Tổ chức các Đơn vị TT : Trong thời kỳ này có nhiều đơn vị được cải tổ và thành lập.
–Thành lập Căn Cứ 60 Tiếp Vận TT thay cho Tiểu Đoàn Tồn Trữ và Sửa Chữa TT tại Sài G̣n.
–Thành lập Tiểu Đoàn TT/TTM thay cho ĐĐ Khai Thác VTĐ đặt trực thuộc Pḥng 6 Bộ TTM (để lo phối hợp hành quân).

–Thành lập Liên Đoàn 65 Khai Thác Truyền Tin Diện Địa (TTDĐ) duy nhất, đồn trú tại Sài G̣n gồm cá Tiểu Đoàn :

.Tiểu Đoàn  Thiết Trí Cable tại Sài g̣n (mới thành lập);

 Tiểu Đoàn 650 Khai Thác TTDĐ (đă có sẵn);

.Các ĐĐTT Địa Phương nâng cấp thành Tiểu Đoàn KT TTDĐ cho 4 VCT:
TĐ610/V1,
TĐ620/V2,
TĐ630/V3,
TĐ640/V4. . . .
Và sát nhập vào Liên Đoàn 65KTTT/DĐ. Mỗi TĐ có các ĐĐKTTT/DĐ. Dưới ĐĐ có các TTTT/Diện Địa/Cố Định .

–Thành lập 4 Tiểu Đoàn TT cho 4 Quân Đoàn .

 –10 ĐĐTT cho 10 Sư Đoàn (những năm sau này cũng trở thành Tiểu Đoàn).
Quân số BCTT trong thời gian này có 16,000, trong đó có 500 Nữ Quân Nhân.
Ngày 1/11/1963 Quân Đội làm Đảo Chánh. Nền Đệ II Cộng Ḥa Miền Nam VN bắt đầu.
Năm 1964 QĐVNCH đổi danh hiệu là Quân Lực VNCH (bằng Sắc lệnh số 161/SL/CT ngày 22/5/1964) bao gồm các lực lượng Chủ Lực Quân, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân.
* Tại Trung ương, BCHVT đổi danh hiệu thành NHA TRUYỀN TIN và Bộ TTM thành lập thêm Pḥng 6 lo việc Điều Hành, Giám Sát mọi hoạt động TT Hành quân/Chiến thuật.
* Nha Truyền Tin tiếp tục trách nhiệm về Khai Thác TT Diện địa, cố định cùng việc Yểm Trợ Tiếp Liệu và Huấn Luyện Chuyên Viên TT.

 Các Quân Đoàn/VCT, có Pḥng 6/QĐ Điều Hành và Giám Sát TT hành quân/chiến thuật trong Vùng.

 

 Về tổ chức Liên Lạc TT :

 * Các đơn vị Chiến Thuật khi hành quân dùng máy cầm tay hay mang sau lưng như AN/PRC–6, AN/PRC–25, AN/GRC–9 hoặc gắn trên xe như AN/GRC–87, AN/GRC–26, v.v. Nếu là hành quân cấp Sư Đoàn trở lên dùng hệ thống STS.
* Tại Bộ TTM có thêm một TTTT (ngoài TTTT Diện Địa) đặt trực thuộc Pḥng 6/TTM.
* Các Quân Đoàn và Sư Đoàn cũng có TTTT có trách nhiệm (Máy STS AN/TRC–1) lo cho nhu cầu về LL hành quân cũng như chỉ huy và điều hành nội bộ.
* Đối với các TTTT/DĐ/cố định đă xử dụng thành thạo máy Siêu Tần Số đa mạch như AN/TRC/1/3,4, hoặc AN/TRC–24 rồi đến hệ thống Viba (Microwave) AN/TRC–90.
* Máy STS hay Viba phát sóng thẳng (line of sight). Với cách phát sóng thẳng này bị giới hạn bởi độ cong của mặt đất nên chỉ có thể phát đi được tối đa 30 miles [48 cây số ]; do đó muốn đi xa phải qua nhiều đài tiếp vận, vị trí càng cao càng tốt, và cần có lực lượng pḥng thủ an ninh cho Đài.

* Song song với các hệ thống STS, c̣n có hệ thống Giai Tần Đơn nối liền từ các TTTT/Diện Địa về Trung ương Sài G̣n. Hệ thống liên lạc này không đạt [được] yêu cầu. Lư do là vật liệu có kỹ thuật không hoàn hảo, tự mua về tự thiết trí và khai thác lấy.
* Trong thời gian này BCTT được phía HK chuyển nhượng một số mạch Điện Thoại và Điện Báo làm cho việc LL rất khả quan, giải quyết được phần trở ngại trên hệ thống Giai Tần Đơn.

* Hệ thống ĐT tự động dùng với tổng đài OKI của Nhật cũng được thiết trí thay cho hệ thống khai thác bằng tay ngay tại Trung ương Sài G̣n. Các nơi khác xử dụng máy “Điện Thoại Điện Chung (common Battery), không phải quay tay chuông mới reo. Máy ĐT có tên TP–6 rất xinh xắn thay cho máy ĐT EE–8 của Pháp hay TA–43/PT của HK.
* Các giới chức quan trọng có thể dùng điện thoại viễn liên trực tiếp thay v́ vô tuyến âm thoại.
* Về liên lạc điện báo, chuyển công điện, giữa Pḥng Viễn Ấn Tự/Tiếp Chuyển Băng các TTTT được sử dụng phương tiện Viễn Ấn Tự (Teletype), Tiếp Chuyển Băng (Tape–Relay) qua h́nh thức đánh thẳng chữ vào trang giấy hay trên băng (Tape) thay cho hệ thống “Morse”  được bảo mật hơn, nhanh chóng hơn và chính xác hơn.

Việc Yểm Trợ Tiếp Liệu TT :

Trong lúc càng nhiều phương tiện TT tối tân th́ cũng là lúc ngành Tiếp Liệu Sửa Chữa TT càng nhiều việc phải làm. Ngoài việc yểm trợ cho các Binh Đoàn đă có từ lâu, c̣n phải yểm trợ cho nhiều đơn vị mới thành lập gồm cả ĐPQ và NQ. Những xe M–30 được trang bị như một xưởng sửa chữa VLTT lưu động đi đến các SĐ, QĐ, v.v. để sửa chữa, và v́ khẩn cấp nhiều khi cũng phải mang VLTT đến các nơi đóng quân để cấp phát tân trang hoặc thay thế, thay v́ Binh Đoàn đến Kho Vật Liệu. Việc làm của các đơn vị Yểm Trợ Trực Tiếp TT đă đáp ứng được nhu cầu chiến trường trong giai đoạn này.

Việc Huấn Luyện Chuyên Viên TT :

 Tháng 10 năm 1961, Trường TT thuộc Liên Trường VKTĐ dời về Vũng Tàu để cùng với Trung Tâm Huấn Luyện TT/Vũng Tàu thành lập một Trường Truyền Tin duy nhất với tên Trường Truyền Tin Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa Vũng Tàu (TT/QLVNCH Vũng Tàu ) , có nhiệm vụ huấn luyện tất cả các loại chuyên viên TT cho các Quân Binh Chủng.
Các SVSQ Thủ Đức học hết giai đoạn 1 (phần căn bản Quân sự) sang giai đoạn 2 nếu được tuyển chọn đi ngành TT, được huấn luyện tại TTT/Vũng Tàu và tốt nghiệp SQTT tại đây.

 

Aucune description de photo disponible.

H́nh SVSQ Truyền Tin K12 /Thủ Đức - (Trường Truyền Tin Vũng Tàu-1962) trích từ tài liệu [3]  & [9]

 

 4. Thời Kỳ năm 1965-1975

Đây là thời kỳ bận rộn nhất, khó khăn nhất của BCTT. Thời kỳ này QLVNCH có 13 Sư Đoàn Bộ Binh: Sư Đoàn 1BB, 2, 3, 5, 7, 9, 18, 21, 22, 23, 25, Sư Đoàn  Nhảy Dù và Sư Đoàn TQLC. Ngoài ra c̣n có một Sư Đoàn Biệt Động Quân đang thành lập kể từ đầu năm 1975.

Đầu năm 1965, Nha Truyền Tin đổi danh hiệu thành CỤC TRUYỀN TIN. (Tiếp tục giữ danh hiệu này măi cho đến tháng 1/1975 th́ đổi lại BCHVT QLVNCH với phạm vi hoạt động to lớn hơn, ngang hàng với các Tổng Cục. Đang chuẩn bị Kế Hoạch phổ biến th́ tháng Tư Đen đến ).

Để thực thi kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, BCTT đă cải tổ và thành lập thêm nhiều đơn vị với quân số lên tới hơn 20 ngàn. Cuối năm 1969 tại V2 và V4CT nâng cấp Tiểu Đoàn Khai Thác TTDĐ thành Liên Đoàn 66 và 67KTTT/DĐ. Dưới Liên Đoàn có các Tiểu Đoàn KTTT/DĐ. Và dưới TĐ là các TT/Viễn Thông thay cho các ĐĐ KTTT/DĐ.
* Tiểu Đoàn 610 KTTT/DĐ thuộc V1CT giữ nguyên cấp TĐ không thành lập LĐ.
* Liên Đoàn 65 KTTT/DĐ giữ nguyên danh hiệu và chỉ c̣n lại các Tiểu Đoàn tại Trung ương và V3CT.

 

 Về nghành Yểm Trợ Tiếp Vận :

* Căn Cứ 60 Yểm Trợ Tiếp Vận đặt trực thuộc Tổng Cục Tiếp Vân, và liên hệ với Cục TT về mặt Kỹ Thuật

 * Các Tiểu Đoàn Yểm Trợ TT tại các Vùng được tách ra khỏi BCTT để kết hợp với các đơn vị Yểm Trợ Tiếp Vận khác như Quân Cụ, Quân Nhu, Công Binh, v.v. thành lập những Liên Đoàn Yểm Trợ Trực Tiếp, trực thuộc quyền chỉ huy của các BCH Tiếp Vận Vùng.


Về Huấn Luyện :

Trường TT Vũng Tàu sát nhập vào Tổng Cục Quân Huấn và vẫn hệ thuộc với Cục TT về Kỹ thuật chuyên môn.

Tháng 10/1970, v́ số lượng khóa sinh quá đông, Trường TT Vũng Tàu cho mở thêm “Chi Nhánh Trường TT Vũng Tàu", gần với Trường Chính, để huấn luyện phần SQTT căn bản, SQTT Trung Cấp, và Cao cấp. Đặc biệt là huấn luyện cho số chuyên viên ICS–DTE. Sau khi học xong một chương tŕnh huấn luyện 13 tháng, vừa Anh Ngữ vừa chuyên môn, sẽ đi thực tập và làm việc (chương tŕnh OJT=On Job Trainning) tại các Đài ICS–DTE của QĐHK.

HỆ THỐNG VIỄN THÔNG LIÊN KẾT ĐÔNG NAM Á (ICS–SEA=Integrated Communications System-South East Asia)

Nền Đệ Nhị Cộng Ḥa Miền Nam VN bắt đầu cũng là lúc Quân Đội Hoa Kỳ cùng với các QĐ Đồng Minh trực tiếp tham chiến tại miền Nam VN. Để đáp ứng cho mọi nhu cầu LL về Hành Chánh, Tiếp Vận cũng như về hành quân trên bộ, yểm trợ hỏa lực B–52 từ các căn cứ Không Quân, và từ Đệ Thất Hạm Đội, Bộ Quốc Pḥng HK thiết lập hệ thống “Viễn Thông Liên Kết Đông Nam Á” (ICS–SEA=Integrated Communications System – South East Asia) với phương tiện tối tân, hiện đại, tại Miền Nam VN. Hệ thống này ngoài phần liên lạc khắp miền Nam VN c̣n có thể liên lạc trực tiếp với các quốc gia Đông Nam Á. Trách nhiệm điều hành hệ thống do Lữ Đoàn 1 TTHK (1st Signal Brigade) .
Đặc tính kỹ thuật của hệ thống ICS, là ngoài phần máy móc hiện đại có công xuất liên lạc cao, c̣n có kỹ thuật truyền sóng (chuyển tín hiệu) theo một phát minh mới (thời bấy giờ) đó là Troposcatter. Sóng hiệu Truyền Tin phát đi từ mặt đất xuyên qua không gian, lên gặp lớp hạ tầng khí quyển của địa cầu là lớp Troposphere (có bề dày 7 miles) th́ tỏa xuống mặt đất và Đài Thu sẽ bắt được tín hiệu.

 Trước đây, kỹ thuật truyền sóng mà Quân Đội Pháp đă áp dụng và Việt Nam tiếp tục sử dụng là loại phát sóng trên mặt đất, dùng loại antenna (Unifilière) bằng dây đồng, thật khó đi xa, và thường bị phá rối bởi thời tiết và giao thoa với các tần số khác.
Hệ Thống ICS bao gồm các Đài được nối kết với nhau như một mạng nhện bao trùm lănh thổ VNCH. Như ta thường thấy những giàn Antenna có dáng h́nh nón (Conic) hay song song (Parabolic) đồ sộ, như muốn chọc thủng không gian, thường được thiết trí ở nơi phi trường, hay ở các đồi núi cao, nơi đó là Đài ICS (c̣n gọi là Đài Tropo).
Tại Sài G̣n, Vùng 3 và Vùng 4 Chiến Thuật có các Đài: Phú Lâm (Sài G̣n), Vũng Tàu, Cần Thơ, Cà Mâu, Rạch Giá, Tây Ninh, Long B́nh.

 

Tổng đài Điện Thoại Sài G̣n- H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

 

Một đơn vị Truyền Tin làm việc tại một tổng đài - H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

 

Căn cứ Truyền Tin Phú Lâm, cạnh phi cảng Tân Sơn Nhất, Sài G̣n- H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

 Trạm Truyền Tin Bà Quẹo, Sài G̣n - H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

Giàn Ăng–ten đĩa đặt tại Bà Quẹo, Sài G̣n - H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

 

Căn cứ Truyền Tin Vũng Tầu - H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

 

Căn cứ Truyền Tin Cần Thơ - H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3


Vùng 2 Chiến Thuật gồm có: Nha Trang, Cam Ranh, Phi Trường Bửu Sơn (Phan Rang), Preline (Đà lạt), Pleiku, Ban Mê Thuột, Tuy Ḥa, An Khê.

 

Trạm Truyền Tin Pleiku - H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

Vùng 1 Chiến Thuật gồm có: Đà nẵng, Vũng Chùa, Chu Lai, Quảng Ngăi, Huế, Quảng Trị.

 

Một trạm chuyển tín hiệu Radio tại Đà Nẵng - H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

 

Đài Quan sát Kỳ Hà tại Chu lai, tỉnh Quảng Tín H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

Tại các Tỉnh và Thành Phố không có Đài ICS th́ được nối liền vào hệ thống ICS bằng hệ thống STS hoặc Viba.

 Khả năng của hệ thống ICS có thể cho 350 mạch liên lạc (channel) trong đó có cả mạch Truyền Đồ (Facsimile Channel). Mỗi một mạch khi cho qua máy Chuyển Lưu Đa Mạch (CF=Carrier Freqency) có thể chuyển đổi ra 12 mạch. Như vậy khả năng có thể đến 350 x 12= 4200 mạch.

Ngoài việc liên lạc trong lănh thổ VNCH, hệ thống ICS c̣n có một hệ thống Cable Đại Dương (Under Sea Cable) thiết trí sát đáy biển đi đến các thành phố Biển của VN như Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu, Qui Nhơn, Đà Nẵng và đến Subic Bay (Philippines), Okinawa (Nhật Bản), Bangkok (Thái lan). Các đầu cuối của đường cable khi lên nối vào Đài Đầu Cable (Cable Head Site). (Về bảo tŕ hệ thống Cable Đại Dương, v́ quá tốn kém ngoài khả năng của VNCH nên phía HK vẫn tiếp tục duy tŕ ở phần Đại Dương, do hăng Bunco Remo của Nhật. VN lo bảo tŕ trên mặt đất sau khi nhận bàn giao).
Ngoài hệ thống ICS, CBH, QĐHK c̣n có những Tổng Đài Tự Động (DTE=Dial Telephone Exchange), mỗi Tổng Đài có từ vài trăm hướng trở lên, thường được thiết trí trong các phi trường, các căn cứ của QĐHK. Các DTE này được nối vào các Đài ICS.
Từ đầu năm 1969 theo kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh, Cục Truyền Tin đă bắt đầu huấn luyện chuyên môn bằng cách :

* Gởi những SQ có khả năng du học tại Signal School Fort Monmouth, New Jersey, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trở về sẽ làm việc với các cơ quan, đơn vị có liên hệ trực tiếp với ICS–DTE.
* Trường TT Vũng Tàu thành lập Khối Huấn Luyện chuyên viên ICS–DTE gấp rút huấn luyện khi măn khóa cho vào thực tập tại các Đài cùng với chuyên viên Hoa Kỳ.
* Một số tài nguyên đáng kể đó là số Thông Dịch Viên Anh ngữ v́ Hoa Kỳ sẽ rút quân được thuyên chuyển sang Cục TT và được đưa vào chương tŕnh huấn luyện.
* Trong thời gian huấn luyện, Cục TT và các Liên Đoàn Khai Thác TT/DĐ luôn luôn đôn đốc và giám sát, liên lạc chặt chẽ với phía Hoa Kỳ và đă giải quyết kịp thời mọi trở ngại khó khăn.

* Thêm vào đó, muốn nói về mặt Tâm Lư, th́ thành phần khóa sinh được tuyển chọn theo học ngành ICS–DTE rất thích thú để theo học v́ được trau dồi Anh Ngữ và làm một công việc hoàn toàn về kỹ thuật chuyên môn có giá trị.
* Hơn nữa mọi người đều thấy, nếu đem so sánh các hệ thống VTĐ, STS của ta đang xử dụng đối với hệ thống ICS–DTE của QĐHK đang xử dụng, chẳng khác nào “người đi xe hơi với người đi máy bay”. Do vậy mà mọi phần hành, mọi nhiệm vụ đều cố gắng, để đạt được kết quả tốt đẹp như mong muốn.

 Ngày 28 tháng 01 năm 1973 Hiệp định Paris kư kết, những ǵ cần chuẩn bị cho việc tiếp nhận các đài th́ Cục TT đă chuẩn bị đầy đủ.

Tại Trung ương đă thành lập các Cơ Quan để Điều Hành, Yểm Trợ và Tiếp Liệu cho toàn Hệ Thống.

Tại các Liên Đoàn Khai Thác TT/DĐ, các Trung Tâm Viễn Thông, những đơn vị trực tiếp điều hành các Đài cũng đă được thành lập.

 Tháng 7 năm 1973, QLVNCH mà Đại Diện là Cục TT, chính thức tiếp nhận toàn bộ hệ thống ICS–DTE–CBH của Quân Đội Hoa Kỳ trên lănh thổ VNCH.

Công việc Điều Hành, Bảo Tŕ hệ thống đ̣i hỏi BCTT phải tổ chức những Cơ Quan thay thế cho Hoa Kỳ và làm việc giống như Hoa Kỳ đă điều hành đó là :

* Trung Tâm Điều Hành Viễn Liên (TT/ĐHVL) thay thế cho cơ quan DCA–SAM (Defense Communications Agency–South East Asia Mainland) của Bộ Quốc Pḥng HK. Giám Đốc Trung Tâm là Đại tá Nguyễn Văn Thịnh, một Sĩ Quan có nhiều kinh nghiệm về Chỉ Huy và Khai Thác TT của Binh Chủng; và cũng đă mấy năm nghiên cứu, học hỏi và thực tập về các Đài ICS–DTE được giao phó nhiệm vụ .

 * Trung Tâm Tiếp Vận Viễn Liên, tương đương với cơ quan AMSF (Area Maintenance and Supply Facility) của Quân Đội Hoa Kỳ.

 CHT/Trung Tâm là Trung tá Đỗ Ngọc Uyên, người có kinh nghiệm lâu năm với ngành Yểm Trợ Tiếp Liệu vừa du học ở Signal School Fort Monmouth. New Jersey, Hoa Kỳ về.
–Trung Tâm Quy Chuẩn Lục Quân (Army Calibration Center), CHT/Trung Tâm là Trung tá Đỗ Linh Quang. Một Sĩ Quan thâm niên trong Binh Chủng thuộc ngành Yểm Trợ Tiếp liệu, thu thập nhiều kinh nghiệm trong nghề Đo Thử, Sửa Chữa, Hiệu Chỉnh và các dụng cụ, máy móc TT.

 * Và để giữ vững liên lạc 24/24 giờ mỗi ngày, một Hệ Thống Kiểm Soát và Báo Cáo sự hoạt động liên lạc trên các hệ thống ICS–DTE–CBH thật chặt chẽ từ các Đài về tới Trung ương được thành lập gồm :

 Cấp Trung Tâm Viễn Thông có C – COC (Company–Communication Operation Control)
Cấp Tiểu Đoàn KTTT/DĐ có B – COC (Battalion– Communication Operation Control)
Cấp Liên Đoàn KTTT/DĐ có G – COC (Group– Communication Operation Control)
Trung ương, TT/ĐH/Viễn Liên A – COC (Agency–Communication Operation Control)
Mỗi sáng từ 8:00AM đến 9:00AM các Đơn Vị Trưởng, ngày nghỉ Sĩ Quan trực (Lệnh của Đại tá Cục Trưởng) phải có mặt tại COC để nghe nhân viên trực thuyết tŕnh, báo cáo mọi liên lạc trong phạm vi trách nhiệm 24 giờ qua, phải giải quyết ngay nếu có trở ngại. Nhờ vậy mà con thuyền ICS–DTE–CBH êm đềm trên sóng nước.
Tóm lại từ lúc biết được kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh, rồi đến lúc toán chuyên viên Truyền Tin tháp tùng phái đoàn VNCH phó hội “Ḥa Đàm Paris” để lập LLTT từ Paris về Sài G̣n, Cục TT đă lo chuẩn bị những ǵ phải làm, để rồi tiếp nhận “Hệ Thống Viễn Thông Liên Kết Đông Nam Á ‘’ thành công tốt đẹp !

 Có sự thành công này, chiến công đầu không ai khác hơn là các vị CHT/BCTT :
Đại tá Phạm Văn Tiến (chức vụ từ 2/1965–10/1973). Người là một cấp Chỉ Huy tài giỏi, biết ước tính t́nh h́nh và đặt kế hoạch chu đáo cho việc Huấn Luyện, Điều Hành các Đài ngay từ giờ phút đầu có Kế Hoạch VN Hóa (vào cuối năm 1969). Giờ đây, Đại tá đă thành người Thiên Cổ nhưng, “Người” đă để lại trong ḷng chúng ta bao Thương Tiếc Kính Yêu!
Kế nhiệm là Đại tá Bùi Trọng Huỳnh, (từ 10/1973 đến 4/1975) và cũng là vị CHT cuối cùng. Tiếp tục công việc vào thời gian hoàn toàn do VN điều hành các Đài, không c̣n lệ thuộc vào HK, biết bao khó khăn trở ngại nhưng đă vượt qua. Việc Khai Thác Liên Lạc trên mọi hệ thống thật đều ḥa.

Việc lượng giá về “phẩm tính của toàn Hệ Thống” vẫn đúng như lúc QĐHK đảm trách.
Kế đến là tất cả chuyên viên ICS–DTE cùng những Nhân Viên được giao cho nhiệm vụ Điều Hành hệ thống đă tận tâm học hỏi, tận sức làm việc.


Sáu Mươi Năm Nh́n Lại :

* Từ lúc thành lập BCTT năm 1951, nhận lại trong tay người Pháp, phương tiện liên lạc c̣n quá thô sơ, cho đến lúc có một hệ thống liên lạc Truyền Tin tối tân nhất Đông Nam Á.
* Từ lúc Bộ TTM của QĐQGVN, BCTT đă có 8 Đại Đội TT để phục vụ đất nước, cho đến giờ phút cuối cùng của tháng Tư Đen năm 1975, có trên 20 ngàn quân, nhân số bằng 2 Sư Đoàn.

 * BCTT/QLVNCH đă cùng chung chiến tuyến với bao nhiêu Quân Binh Chủng bạn, trải qua bao nỗi thăng trầm của Chính thể VNCH: Đảo Chánh, Chỉnh Lư, Xâm lược, người Chiến Sĩ Truyền Tin QLVNCH vẫn thủy chung tuân hành theo Quân Lệnh, tôn thờ Một Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, không bè phái, không tham gia đảo chánh, không lợi dụng tập thể Quân Đội.

 Phải chăng những cái “Không” đó mà các vị Chỉ Huy Trưởng BCTT không có ai mang lon cấp Tướng ?

Người chiến sĩ Truyền Tin được giao phó cho công tác chuyên môn, làm việc trên khắp các miền quê hương đất nước, không giống như “đoàn quân hiên ngang trên đường ra chiến tuyến” “trống giục quân reo” và khi chiến thắng trở về là “ca khúc khải hoàn, nâng ly mừng chiến thắng” mà họ là những người âm thầm làm việc bằng khối óc và đôi tay để giữ vững liên lạc Truyền Tin 24/24 giờ mỗi ngày cho nhu cầu của QĐ của đất nước. Có mấy ai biết, có mấy ai hay !

Ai bảo BCTT chọn Chim Bồ Câu làm Biểu Tượng, v́ nó quá hiền ḥa, chỉ biết giang đôi cánh rộng mang tin bay đi muôn phương, nhưng măi măi không quên nơi tổ ấm, quê xưa lúc cần bay về, không bao giờ lạc lối.

Mặc dầu Binh Chùng Truyền Tinh chọn Chim Bồ Câu làm Biểu Tượng Ḥa B́nh, nhưng bọn cộng sản thù hằn Binh Chủng này như các binh chủng khác trực diện chiến đấu trên chiến trường. Một cựu quân nhân Binh Chùng Truyền Tinh, Lieng Danh  viết  trên tài liệu [4] như sau : ‘’ Tôi nhớ khi đi học tập cải tạo nghe các cán bộ quản giáo nói : tội mấy anh nặng lắm v́ kêu ô bích , đầm già , trực thăng phóng pháo tụi tôi …. Không biết phải vậy không mà tui gở hết 6 cuốn lịch. Thấy cũng c̣n nhẹ tội hơn mấy ông đàn Anh’’ .


Chỉ Huy Trưởng, Giám Đốc, Cục Trưởng qua các thời kỳ trích từ tài liệu [1]

Họ và Tên - Cấp bậc - Chức vụ -Tại chức - Chú thích

1 -Lương Thế Soái -Trung Tá -Chỉ huy Trưởng -8/1955-1/1957 - Chỉ Huy Trưởng  đầu tiên "Bộ Chỉ Huy Viễn Thông" . Giải ngũ năm 1957 ở cấp Trung Tá ;

2 -Nguyễn Khương-Vơ Bị Huế K1 -Thiếu Tá -1/1957-5/1959 -Chỉ Huy Trưởng  lần thứ nhất ;

3 -Khổng Văn Tuyển-Vơ Bị Huế K2 -Trung Tá - 5/1959-6/1960 ;

4 -Nguyễn Khương -Đại Tá -6/1960-11/1960 -Tái nhiệm lần thứ hai ;

5 -Vơ Đại Khôi-Vơ Bị Đà Lạt K3 -Trung Tá -11/1960-12/1962 -Sau là Đại Tá ;

6 -Khổng Văn Tuyển - Trung Tá -12/1962-11/1963 -Tái nhiệm lần thứ 2-Sau là Đại Tá ;

7 -Tạ Thái B́nh-Vơ Bị Đà Lạt K4 - Trung Tá -Giám đốc -11/1963-2/1964 -Chuyển chức vụ là Giám Đốc khi "Bộ Chỉ Huy Viễn thông" đổi thành "Nha Truyền Tin".Sau là Đại Tá ;

8 -Nguyễn Tài Lâm-Vơ Khoa Thủ Đức K1 -Đại Tá -2/1964-2/1965;

9 -Phạm Văn Tiến-Vơ Bị Đà Lạt K3 - Đại Tá -Cục trưởng -2/1965-10/1973 -Chuyển chức vụ là Cục Trưởng khi "Nha Truyền Tin" đổi thành "Cục Truyền Tin" ;

10 -Bùi Trọng Huỳnh-Vơ Khoa Nam Định - Đại Tá-10/1973-4/1975.

 

Các vị Chỉ Huy nổi tiếng của Binh Chủng Truyền Tin theo tài liệu [1] :  Khổng Văn Tuyển, Bùi Trọng Huỳnh.

 

Sau cùng xin ghi thêm Tóm Lược Tiểu Sử Tiểu Đoàn Truyền Tin của  hai Binh Chủng Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa :  Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.

 

A-Tóm Lược Tiểu Sử Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù

Trích từ  tài liệu [11] :

 

Huy hiệu Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù

 

Tóm Lược Tiểu Sử Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù

Ngày 29/9/1954, Phân Đội Truyền Tin Nhảy Dù cùng lúc với các đơn vị Nhảy Dù khác được Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn Nhảy Dù Pháp (GAP3) bàn giao cho Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn

Nhảy Dù Việt Nam tại Nha Trang gồm một số hạ sĩ quan và binh sĩ Truyền Tin Việt Nam

trong quân đội Liên Hiệp Pháp, với các chuyên viên như Điện Tín Viên, Điều Chỉnh Viên,

Tổng Đài Viên, Mật Mă Viên, cùng các chuyên viên sửa chữa và tiếp liệu truyền tin…

Những chuyên viên này đều được đào tạo tại các Trường Truyền Tin cuả quân đội Pháp, trong số đó có nhiều hạ sĩ quan thâm niên và có khả năng giỏi mà sau này họ là những chuyên viên ṇng cốt cuả  đơn vị Truyền Tin Nhảy Dù Việt Nam.

 Kể từ ngày 29/9/1954 ,Trung úy Nguyễn Văn Viên được bổ nhiệm chỉ huy và điều hành Phân đội Truyền Tin trong việc cải tổ, củng cố, huấn luyện lại cho phù hợp với nhiệm vụ và hoàn cảnh cuả đơn vị Nhảy Dù Việt Nam.

Đặc biệt là phương pháp chỉ huy và chuyển ngữ tất cả tài liệu, kỹ thuật… sang tiếng Việt. Và theo đà phát triển của Binh Chủng Nhảy Dù, Truyền Tin cũng dần dần chuyển ḿnh lớn mạnh và hiện đại theo thời gian. Phân Đội Truyền Tin đă được nâng cấp lên thành Đại Đội Truyền Tin (ngày 26/10/1959) rồi Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù (ngày 1/8/1970).

Đáp ứng nhu cầu phát triển, Đơn vị Truyền Tin Nhảy Dù phải nghiên cứu tu chỉnh Bảng Cấp số và tổ chức các toán tuyển mộ trực tiếp đến: Các Vùng chiên thuật để tuyển  mộ các chuyên viên Truyền Tin t́nh nguyện về phục vụ cho Truyền Tin Nhảy Dù. Hoặc đến các Tiểu Khu tuyển mộ các thanh niên t́nh nguyện nhập ngũ, phục vụ tại Truyền Tin Nhảy Dù và đưa họ về huấn luyện quân sự tại Tiểu Đoàn Vương Mộng Hồng rồi TTHL Nhảy Dù, sau đó tuỳ theo khả năng văn hoá, thiết lập hồ sơ điều chuẩn an ninh và gởi họ đi thụ huấn chuyên môn tại Trường Truyền Tin QLVNCH tại Vũng Tàu.

Từ năm 1961, nhu cầu chiến trường đ̣i hỏi quá lớn, quân số Đại Đội Truyền Tin chỉ có 2 sĩ quan và 73 hạ sĩ quan và binh sĩ không kham nổi nhiệm vụ nên những hạ sĩ quan giỏi được xử dụng vào những chức vụ quan trọng cuả đơn vị và quân số cuả Truyền Tin cũng được bổ sung tăng dần lên đến 5 sĩ quan và khoảng 100 hạ sĩ quan và binh sĩ.

Ngày 1/12/1965 Lữ Đoàn Nhảy Dù được cải danh thành Sư Đoàn Nhảy Dù. Nhiệm vụ yểm trợ liên lạc truyền tin cho Sư Đoàn Nhảy Dù gia tăng gấp bội, t́nh h́nh chiến sự lại sôi động, quân số Đại Đội Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù không đáp ứng nổi nhu cầu, nên

Bộ Tổng Tham Mưu chấp nhận cho Truyền Tin Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù được tuyển chọn các quân nhân Truyền Tin từ các vùng chiến thuật t́nh nguyện về phục vụ tại Đại Đội Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù trong lúc chờ đợi Bảng cấp số Tiểu Đoàn Truyền Tin được phê chuẩn.

Do đó, Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù đón nhận được nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ truyền tin giỏi và có tinh thần phục vụ cao. Sau khi họ được huấn luyện nhảy dù, cùng với tất cả các quân nhân cuả Đại Đội chung lo củng cố, tổ chức, huấn luyện và làm quen với nhiệm vụ một đơn vị nhảy dù. Các cấp trong đơn vị thật phấn khởi, hăng say, và kết quả thật khả quan trong các cuộc hành quân cuả Sư Đoàn Nhảy Dù sau này.

Ngày 1/8/1970 Bảng cấp số được phê chuẩn, Đại Đội Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù được cải danh thành Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù do Sự Vụ Văn Thư số 2546/TTM–TCTV–KHCT kư ngày 22/07/1970 với quân số gồm 22 sĩ quan, trên 300 hạ sĩ quan và binh sĩ (Trong số này Pḥng Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù có 6 sĩ quan + 6 hạ sĩ quan và binh sĩ), và được trang bị bằng một hệ thống truyền tin cơ động và hiện đại nhất do Hoa Kỳ viện trợ.

B. Các Cấp chỉ huy Đơn vị Truyền Tin liên tục qua các giai đoạn:

1. Trung úy Nguyễn Văn Viên. (29/09/1954 – 01/05/1955) Ngày 29/9/1954 Phân đội Truyền Tin với Bảng Cấp Số: 2 SQ & 73 hạ sĩ quan và binh sĩ. Tổng cộng quân số tại hàng 75 người. Phân Đội Trưởng: Trung úy Nguyễn Văn Viên.

2. Trung úy Nguyễn Văn Tuy: (01/05/1955–1957) Ngày 1 tháng 5 năm 1955 Trung úy Nguyễn Văn Tuy thay thế Trung úy Nguyễn Văn Viên được biệt phái sang bộ Giáo Dục.

3. Trung úy Lưu Danh Rạng: (1957–11/11/1960) Năm 1957 Trung úy Lưu Danh Rạng từ Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù về thay thế Trung úy Nguyễn Văn Tuỳ. Ngày 26/10/1959 Phân Đội Truyền Tin được cải danh là Đại Đội Truyền Tin Lữ Đoàn Nhảy Dù (Cấp số không thay đổi) Đại Đội Trưởng: Trung úy Lưu Danh Rạng.

4. Trung úy Triệu Văn Luỹ: (12/11/1960–12/1960) Ngày 11/11/1960 Trung úy Lưu Danh Rạng tham gia đảo chánh 11/11/1960 không thành công. Trung úy Triệu Văn Luỹ SQTT/TĐ5ND được chỉ định thay thế Trung úy Rạng chức vụ Đại Đội Trưởng.

1. Trung úy Lư Văn Bao: (12/1960 – 2/1965) Tháng 12/1960 Trung úy Lư Văn Bao từ sở Truyền Tin phủ Tổng Thống về thay thế Trung úy Triệu Văn Luỹ thuyên chuyển qua sở Liên Lạc.

2. Thiếu úy Nguyễn Tự Bảo: (2/1965 – 23/03/1966) Tháng 2/1965 Đại úy Lư Văn Bao du học Mỹ, Thiếu úy Nguyễn Tự Bảo, Đại Đội Phó, kiêm SQTL & Bảo Toàn Truyền Tin Lữ Đoàn Nhảy Dù, XLTV chức vụ Đại Đội Trưởng.

3. Thiếu úy Tôn Thất Hiếu (23/03/1966 – 06/05/1974) Ngày 23/3/1966 Thiếu úy Tôn Thất Hiếu (SQTT/TĐ5ND) được bổ nhiệm về làm Đại Đội Trưởng Đại Đội Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù. Giai đoạn này cấp số Đại Đội Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù tăng lên 5 Sĩ quan + 100 hạ sĩ quan và binh sĩ. Thiếu úy Tôn Thất Hiếu thăng cấp lên trung úy rồi đại úy)

Ngày 1/8/1970 Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận nâng cấp Đại Đội Truyền Tin SĐND thành Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND bởi SVVT số 2546/TTM/312K/TTM–P1/TK–K kư ngày 22/7/1970. Bảng cấp số gồm 22 sĩ quan + trên 300 hạ sĩ quan và binh sĩ 400 người. Tiểu Đoàn Trưởng kiêm Trưởng pḥng Truyền Tin: Thiếu tá Tôn Thất Hiếu.

4. Thiếu tá Nguyễn Tự Bảo: (06/05/1974–16/08/1974) Từ ngày 6/5/1974 đến 16/8/1974,Trung tá Tôn Thất Hiếu đi học khoá Sĩ Quan Bộ Binh Cao Cấp, Thiếu tá Nguyễn Tự Bảo, Tiểu Đoàn Phó thay thế chức vụ Quyền Trưởng Pḥng Truyền Tin kiêm nhiệm

TĐT Tiểu Đoàn Truyền Tin trong thời gian Trung tá Hiếu đi học.

5. Trung tá Tôn Thất Hiếu (17/08/1974–30/04/1975) Sau thời gian tham dự khoá Sĩ Quan Bộ Binh Cao Cấp Trung Tá Tôn Thất Hiếu trở vể nắm chức Tiểu Đoàn Trưởng cho đến ngày 30/4/1975.

C. Pḥng Truyền Tin / SĐND :

Tổ chức Pḥng Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù khác hẳn với các Pḥng Truyền Tin Sư Đoàn Bộ Binh, quân số Pḥng Truyền Tin/SĐBB thuộc Đại Đội Tổng Hành Dinh, Trưởng

Pḥng và Tiểu Đoàn Trưởng là 2 SQ riêng biệt. Trong khi đó Trưởng Pḥng Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù kiêm nhiệm Tiểu Đoàn Trưởng và quân số Pḥng Truyền Tin lại do Tiểu Đoàn Truyền Tin quản trị. Ngoài chức vụ Trưởng Pḥng Truyền Tin Sư Đoàn, pḥng

Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù gồm có:

– 1 sĩ quan phụ tá kiêm nhiệm sĩ quan Khai Thác.

– 1 sĩ quan Kỹ Thuật và Huấn Luyện.

– 1 sĩ quan Mật Mă.

– 3 sĩ quan Truyền Tin/Trung Tâm Hành Quân S ư Đoàn Nhảy Dù.

– 6 hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên viên và đánh máy.

Nhiệm vụ cuả Trưởng pḥng Truyền Tin là :

– Tham mưu chuyên môn (soạn Phụ Bản Truyền Tin trong Lệnh Hành Quân) & cố vấn về

truyền tin cho vị Tư Lệnh S ư Đoàn Nhảy Dù.

– Nghiên cứu và thiết lập các hệ thống liên lạc theo nhu cầu cuả toàn thể S ư Đoàn Nhảy Dù từ Bộ Tư Lệnh đến các đơn vị cấp thấp nhất (Tiểu đội) như: hệ thống siêu tần số, hệ thống vô tuyến AM, FM, hệ thống liên lạc giai tần đơn, hệ thống liên lạc viễn ấn tự, hệ thống tổng đài điện thoại, hệ thống liên lạc Không–Hải–Lục, hoả bài quân…

– Ban hành Lệnh Căn Bản Truyền Tin (LCBTT), đặc lệnh truyền tin, các khoá ám danh đàm thoại, tài liệu khai thác, điều chỉnh, mật mă…

– Đôn đốc, theo dơi và kiểm soát việc khai thác các hệ thống liên lạc truyền tin tại các Trung Tâm Truyền Tin, Trung Tâm Hành Quân S ư Đoàn Nhảy Dù đúng theo LCBTT đồng

thời giải quyết mọi trở ngại.

– Nghiên cứu và phổ biến các tài liệu Truyền Tin về khai thác, kỹ thuật, huấn luyện đến các đơn vị trực thuộc trong Sư Đoàn Nhảy Dù để thi hành theo nhu cầu.

– Theo dơi và kiểm soát việc bảo vệ an ninh truyền tin cuả các đơn vị kể cả Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù như việc khai thác các hệ thống liên lạc, lưu trữ và thiêu huỷ tài liệu truyền tin, việc điều chuẩn an ninh cho các chuyên viên truyền tin…

– Nghiên cứu và thiết lập chương tŕnh huấn luyện, đào tạo và bổ sung chuyên viên cho

các đơn vị thống thuộc S ư Đoàn Nhảy Dù…

– Phối hợp với các P1,P3 & P4 S ư Đoàn Nhảy Dù để tổ chức thanh tra định kỳ hay bất

thường về truyền tin để giúp đỡ các đơn vị hoàn thành công tác liên lạc truyền tin được tốt đẹp như các vấn đề tiếp vận, tiếp liệu và bổ sung chuyên viên.

D– Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù.

Tiểu đoàn Truyền Tin/SĐND được Bộ TTM chính thức chuẩn nhận ngày 1/8/1970 với việc tổ chức thành 3 Đại Đội: Đại Đội Chỉ Huy & Công Vụ, Đại Đội Khai Thác Chỉ Huy và Đại Đội Khai Thác Hành Quân.

1– Đại Đội A hay Đại Đội Chỉ huy & Công Vụ: quân số khoảng 85 người, lo việc yểm trợ và tiếp vận cho đơn vị bao gồm các Ban quân số, Ban An Ninh, Ban Hành Quân và Huấn Luyện, Ban Tiếp Liệu, Ban Chiến Tranh Chính Trị, Ban Ẩm Thực, Ban Quân Xa sửa chữa cấp 3, Xưởng sửa chữa TT cấp 3, Kho vũ khí và Toán Y tế.

2– Đại Đội B hay Đại Đội Khai Thác Chỉ Huy: quân số 120 người, đảm nhiệm khai thác hệ thống liên lạc truyền tin tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù/căn cứ Hoàng Hoa Thám bao gồm Trung Tâm Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù, Trung Đội Vô Tuyến và Trung Đội Dây & Tổng Đài.

3– Đại Đội C hay Đại Đội Khai Thác Hành Quân: quân số khoảng 175 người, đảm nhiệm khai thác hệ thống truyền tin từ BTL hành quân S ư Đoàn Nhảy Dù đến các đơn vị trực thuộc và các đơn vị chỉ huy chiến trường cũng như hệ thống liên lạc từ vùng hành quân về Bộ Tư Lệnh S ư Đoàn Nhảy Dù tại Sài G̣n. Bao gồm Trung Tâm Truyền Tin Sư  Đoàn Nhảy Dù Hành Quân, các Trung Đội 1, 2, 3 & 4 yểm trợ các Lữ Đoàn Nhảy Dù.

Đầu năm 1975, đáp ứng nhu cầu gia tăng quân số cuả SĐND lên đến 4 Lữ Đoàn, 15 Tiểu Đoàn Nhảy Dù tác chiến, 4 TĐ Pháo Binh Dù, Đại Đội Khai Thác Hành Quân phải đảm nhiệm việc thành lập, quản trị và trang bị cho các Trung Đội Truyền Tin tân lập thuộc các LĐIV Nhảy Dù cùng các Tiểu Đoàn 12 – 18 Nhảy Dù. Do đó quân số cuả Đại Đội

Khai Thác Hành Quân tăng đến trên 400 quân nhân và 13 Trung Đội. (vượt ngoài bảng cấp số, việc huấn luyện các Trung Đội tân lập này do Ban 3 Hành Quân và Huấn Luyện của TĐTT đảm trách. Trưởng Ban 3 của Tiểu Đoàn Truyền Tin là Đại úy Nguyễn Văn Quí)

Nhiệm vụ Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù là đảm nhiệm việc thiết lập hệ thống liên lạc cho Sư Đoàn Nhảy Dù như các hê thống liên lạc điện thoại, hệ thống liên lạc điện báo, hệ thống liên lạc vô tuyến, hệ thống siêu tần số, hệ thống giai tần đơn, hệ thống viển ấn tự, luôn cả hoả bài quân, từ hậu cứ cho đến vùng hành quân hoạt động 24/24 giờ.

Tuy rằng không trực tiếp tấn công hay đánh cận chiến với địch quân nhưng trách nhiệm cuả các chiến sĩ Truyền Tin S ư Đoàn Nhảy Dù không kém phần quan trọng. Trong mọi t́nh huống cuả đơn vị các chuyên viên Truyền Tin âm thầm làm việc liên tục 24 giờ trong các công sự pḥng thủ để cung cấp phương tiện liên lạc hữu hiệu cho tất cả các giới chức chỉ huy khi cần đến với các đặc điểm “nhanh chóng, kín đáo và chính xác”.

Nếu Bộ Chỉ Huy là “Đầu năo” th́ Truyền Tin sẽ là “Thần Kinh Hệ”. Các Chiến Sĩ Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù luôn luôn hoàn tất nhiệm vụ, dù trong mọi hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, khắp các mặt trận Việt Miên Lào. Có thể nói nơi nào có quân CS xâm lược, nơi đó có các chiến sĩ Nhảy Dù và nơi đó cũng có người lính  Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù.

Tuyên Dương Công Trạng:

Hiệu Kỳ của Tiểu Đoàn Truyền Tin được hai lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.

 

 


Máy Liên Lạc Vô tuyến hiệu AN/PRC–25 -H́nh trích từ tài liệu [3] Phần 3

Máy Liên Lạc Vô tuyến hiệu AN/PRC–25 mà AE Nhảy Dù hay gọi là "pê–a–xê–hăm lăm’’. PRC–25 được trang bị cho các đơn vị tác chiến cấp Trung đội trở lên.  Máy này dùng hai loại Ăng-ten :

Dẹp (lá dứa) và cần câu (ăng–ten cần câu gồm nhiều đoạn và có thể xếp gọn lại được).
PRC–25 có tầm hoạt động trong chu vi 50km. 
Ngày 30/4/1975, Lữ Đoàn I Nhảy Dù QLVNCH vượt biên bằng tầu thủy , và cố Trung tá Lê Hồng, Lữ đoàn phó đi trên con tầu của Bộ Chỉ Huy LĐIND, đă dùng PRC–25 để liên lạc với các tầu TĐ8 và 9ND trên đại dương.

 

B-Tóm Lược Tiểu Sử Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến

Trích từ  tài liệu [12] :

 

Cùng với sự bành trướng Lữ Đoàn TQLC thành Sư Đoàn TQLC, Đại Đội Truyền Tin

thuộc Tiểu Đoàn Tổng Hành Dinh/ Sư Đoàn TQLC cũng biến đổi thành Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐTQLC.

Tiểu Đoàn Truyền Tin được chính thức thành lập vào tháng 9 năm 1971. Đơn vị đồn trú trong Căn Cứ Sóng Thần tại Dĩ An, Biên Hoà.

 

Cổng căn Cứ Sóng Thần

Thống thuộc: Sư Đoàn TQLC
Quân số: 464
Tiểu Đoàn Trưởng: Trung Tá Hoàng Ngọc Bảo (Trưởng pḥng TT/SĐTQLC kiêm nhiệm)
Gồm có:
- BCH/ Tiểu Đoàn;
- Đai Đội Chỉ Huy Công Vụ;
- Đại Đội Khai Thác Chỉ Huy;
- Đại Đội Khai Thác Hành Quân.
Nhiệm Vụ:
- Nhận lệnh trực tiếp từ Pḥng TT/SĐ;
- Cung cấp nhân viên, vật liệu truyền tin;
- Thiết lập và khai thác liên lạc giửa BTL/SĐTQLC bằng các phương tiện vô tuyến, hữu tuyến, viễn ấn tự, siêu tầng số... đến với:
- Phủ Tổng Thống;
- Phủ Thủ Tướng;
- Bộ Nội Vụ;
- BTTM/QLVNCH;
- Biệt Khu Thủ Đô;
- BTL/SĐTQLC/HQ;
- Các BCH/Lữ Đoàn 147, 258, 369, 468;
- Các Tiểu Đoàn tác chiến TQLC/HQ và Hậu cứ;
- Các Tiểu Đoàn Pháo Binh TQLC/HQ và Hậu cứ;
- Căn cứ Sóng Thần/SĐTQLC;
- Trung Tâm Huấn Luyện/SĐTQLC.



Những người lính Đại Đội Khai Thác Hành Quân Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sáng ngày 29/03/75 trên Bải biễn Non Nước- Thành Phố Đà Nẳng ,đứng chờ tàu vô bốc đi vô Nam, nhưng tan hàng ở đây.


Tài liệu tham khảo :

1.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Binh_ch%E1%BB%A7ng_Truy%E1%BB%81n_tin_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Binh Chủng Truyền Tin Việt Nam Cộng Ḥa .

2.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .

3.     https://nhayduwdc.org/st/hhqlvnch/hhtt/ndwdc_st_hhqlvnch_hhbctt_2015SEP03.htm

Phấn 1

a-Sơ lược về Lịch sử/Tiểu sử và bộ Huy hiệu nguyên thủy của BCTT do cựu Đại Tá QLVNCH Nguyễn Huy Hùng, Cựu Chỉ Huy Phó Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, biên soạn; Tiểu Sử Binh Chủng Truyền Tin QLVNCH ;

b-Cơ cấu tổ chức BCH TT do Bồ Câu Nguyễn Bế ,cựu Thiếu Tá QLVNCH,biên soạn  Phần 2 :  Bộ Huy hiệu BCTT QLVNCH;

Phần 3 :  H́nh ảnh về BCTT QLVNCH và BCTT thuộc Quân đội Đồng minh Hoa Kỳ trong thời chiến.      

4.     https://www.nhayduwdc.org/ls/qlvnch/qt/td/2019/ndwdc_ls_qlvnch_qt_td_tsTSQTBTD_2019JUL24_wed.htm Tiểu Sử Trường Bộ Binh Thủ Đức-QLVNCH.

5.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_binh_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Trường Bộ Binh Thủ Đức .

6.     https://www.facebook.com/groups/BoBinhThuDucVNCH/posts/1900710013712291/  Trường Bộ Binh Thủ Đức Việt Nam Cộng Ḥa-Ngoc Chanh Phan- 5 mai 2024 .

7.     https://nhayduwdc.org/ls/qlvnch/tt/ndwdc_lsqlvnch_tt_DuyenNoTruyenTin_2018AUG01_wed.htm Duyên Nợ Truyền Tin – Nguyễn Huy Hùng- 24 Jan. 2005.

8.     https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .

9.     https://www.facebook.com/groups/375827203600067/posts/1173474883835291/ Sài G̣n Xưa-Nguyễn Trần Vương Thơ-17 mai 2024- Trường Truyền Tin Vũng Tàu .

10.  https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ – 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.

11.  file:///E:/Quan%20truong/Nhay%20du%20TAI%20LIEU/TS-TieuDoanYemTro-SDND.pdf Các Đơn Vị Yểm Trợ Sư Đoàn Nhảy Dù – Tiểu Đoàn Truyền Tin Sư Đoàn Nhảy Dù.

12.  http://s113345672.onlinehome.us/dsst2013/dsst2013-tieudoan-truyentin.htm Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Ḥa- Tiểu Đoàn Truyền Tin-MX Trần Văn Viễn.